Hán Việt Hán tự Ý nghĩa
Thận

(つつし)

Cẩn trọng
Biện

(わきま)える

Nhận thức
Nhất Thập

(いち)から(じゅう)まで

Từ A-Z
Khí Kiêm

気兼(きがね)

Khách sáo
Khí Dẫn

()()ける

E ngại
Niên Phối

年配(ねんぱい)

Bực tiền bối
Nhất Mục Trí

一目置(いちもくお)

Nể trọng
Bái Tá

拝借(はいしゃく)

Mượn
Khoan Đại

寛大(かんだい)

Bao dung
Đại Mục Kiến

大目(おおめ)()

Bỏ qua
Trường Mục Kiến

(なが)()()

Kiên nhẫn
Xúc

(うなが)

Thúc đẩy
Khước Hạ

却下(きゃっか)

Bác bỏ
Khủng Nhập

恐れ入る(おそれいる)

Cảm kích
Ngưỡng

(あお)

Thỉnh giáo

(とが)める

Khiển trách
Chuẩn

(じゅん)じる

Áp dụng
Đối Đẳng

対等(たいとう)

Ngang hàng
Đồng Khẩu

同口(ためぐち)

Nói ngang hàng
 

ぞんざい

Thô lỗ
Yên

(けむ)たい

Ngột ngạt
Tiền Trí

前置き(まえおき)

Mở đầu
Tức Khổ

息苦(いきぐる)しい

Khó thở
Lý Khuất

理屈(りくつ)

Lý lẽ

(へりくだ)

Khiêm tốn
 

おだてる

Nịnh hót
Dẫn Hạ

()()がる

Rút lui
 

パワハラ

Quấy rối
Kinh Lịch

経歴(けいれき)

Lý lịch
 

キャリア

Sự nghiệp
Sanh

()かす

Vận dụng
Đồ

(はか)

Lên kế hoạch
Sự Nghiệp

事業(じぎょう)

Sự nghiệp
Khởi Nghiệp

起業(きぎょう)

Khởi nghiệp
Tư Kim

資金(しきん)

Vốn liếng
Thực Nghiệp Gia

実業家(じつぎょうか)

Doanh nhân
Cộng Đồng

共同(きょうどう)

Hợp tác
Dã Tâm

野心(やしん)

Tham vọng
 

コネ

Mối quan hệ
Nhất Khứ Bát Khứ

一か八か(いちかばちか)

Được ăn cả
Thừa Tri

承知(しょうち)

Đồng ý
Đề Thị

提示(ていじ)

Đề xuất
 

サイドビジネス

Việc phụ
Gia Nghiệp

家業(かぎょう)

Nghề gia đình
Khiển Toại

()()げる

Hoàn thành
Uyển

(あて)てる

Gửi tới
Kiến Kế

見計(みはか)らう

Ước lượng thời gian
Viên Mãn

円満(えんまん)

Êm đẹp
Hậu Áp

後押(あとお)

Ủng hộ
Dẫn Kế

()()

Bàn giao
 

失敗(しくじ)

Thất bại
Giải Cố

解雇(かいこ)

Sa thải
 

ニート

Người thất nghiệp

GIẢI THÍCH NGỮ PHÁP: ~ともなると / ~ともなれば / ~となると (Trình độ N2)

Nhóm cấu trúc này đều sử dụng trợ từ điều kiện と kết hợp với động từ なる (trở thành). Khi chuyển sang trình độ trung cao cấp, chúng được dùng để giả định hoặc đưa ra một cột mốc, một giai đoạn đặc biệt, từ đó dẫn đến một sự thay đổi tất yếu về trạng thái hoặc hành vi.

Phân tích cặp bài trùng: ~ともなると / ~ともなれば

Ý nghĩa

Một khi đã trở thành... / Cứ hễ lên đến mức... thì đương nhiên sẽ...

Bản chất và Ngữ cảnh sử dụng

Nhấn mạnh sự tiến hóa về mặt cấp độ: Trợ từ も trong cấu trúc này mang hàm ý nhấn mạnh mức độ cao. Vế trước (~ともなると / ~ともなれば) đưa ra một cột mốc đặc biệt, một vị trí cao, một độ tuổi nhất định hoặc một tình huống có tính chất quan trọng hơn hẳn mức bình thường.

Hệ quả tất yếu, tự nhiên: Vế sau diễn tả một trạng thái, một hành động hoặc một sự đánh giá hiển nhiên, thay đổi hoàn toàn so với khi còn ở mức độ thấp. Người nói muốn truyền tải thông điệp: "Khi ở mức độ bình thường thì không sao, nhưng một khi đã chạm đến cái ngưỡng cao này rồi, thì mọi chuyện đương nhiên sẽ khác."

Sự khác biệt giữa hai đuôi câu:

~ともなると: Thường dùng cho các tình huống thực tế, sự thật hiển nhiên hoặc những việc đã/đang xảy ra.

~ともなれば: Mang tính giả định cho tương lai nhiều hơn (nếu một mai chạm đến mốc đó). Tuy nhiên, trong đa số ngữ cảnh, chúng có thể thay thế cho nhau.

Cấu trúc ngữ pháp

$$\text{Danh từ} + \mathbf{ともなると / ともなれば}$$

Ví dụ minh họa

社会人ともなると、学生時代のように自由な時間を作るのは難しい。

(Một khi đã trở thành người của xã hội [đi làm], việc tạo ra thời gian rảnh rỗi như thời học sinh là điều rất khó khăn.)

子供も中学生ともなれば、親の言うことを素直に聞かなくなるものだ。

(Con cái một khi đã lên đến cấp trung học cơ sở, chúng thường sẽ không còn ngoan ngoãn nghe lời cha mẹ nữa.)

有名タレントともなると、一歩外に出るだけで周囲の人に囲まれてしまう。

(Cứ hễ trở thành ngôi sao nổi tiếng, chỉ cần bước chân ra ngoài một bước là đã bị mọi người xung quanh bao vây.)

Phân tích cấu trúc: ~となると

Ý nghĩa

Nếu nói đến chuyện... / Nếu đặt vào tình huống... thì...

Bản chất và Ngữ cảnh sử dụng

Đặt giả thuyết để xem xét tình huống thực tế: Khác với hai cấu trúc trên (vốn nhấn mạnh vào cấp độ cao), ~となると đơn thuần là đưa ra một giả thuyết, một trường hợp cụ thể hoặc một chủ đề nào đó để từ đó người nói thực hiện việc suy ngẫm, đánh giá hoặc dự đoán hậu quả ở vế sau.

Sắc thái thận trọng hoặc lo lắng: Vế sau của ~となると thường là những câu thể hiện sự thay đổi về thái độ, những khó khăn phát sinh, hoặc những phán đoán mang tính chất e ngại, nghi ngờ của người nói khi đối mặt với tình huống giả định đó.

Cấu trúc ngữ pháp

$$\text{Danh từ / Thể thông thường (Futsuukei)} + \mathbf{となると}$$

Ví dụ minh họa

来月の海外旅行となると、今からパスポートの更新手続きをしなければ間に合わない。

(Nếu nói đến chuyện đi du lịch nước ngoài vào tháng sau, nếu không làm thủ tục gia hạn hộ chiếu từ bây giờ thì sẽ không kịp mất.)

自分で会社を経営するとなると、これまでの会社員時代とは全く違う責任が生じる。

(Nếu đặt vào tình huống tự mình đứng ra kinh doanh công ty, những trách nhiệm hoàn toàn khác biệt so với thời làm nhân viên văn phòng trước đây sẽ phát sinh.)

彼が不参加となると、今回のプロジェクトの進行に大きな影響が出るだろう。

(Trong trường hợp anh ấy không tham gia, có lẽ tiến độ của dự án lần này sẽ bị ảnh hưởng lớn.)

Con cái một khi đã lên cấp 2 thì sẽ không còn nghe lời cha mẹ nữa.

Đã là sinh viên đại học thì bắt buộc phải tự chịu trách nhiệm cho hành vi của mình.

Một khi đã đi làm ra xã hội thì quỹ thời gian tự do hầu như không còn.

Trẻ con hễ lên 1 tuổi là nhiều đứa đã bắt đầu lẫm chẫm tập đi.

Một khi đã là học sinh cấp 3 thì sẽ bắt đầu nghĩ nghiêm túc về tương lai.

Cứ bước sang tuổi 20 là cơ hội được rủ rê đi nhậu nhẹt sẽ tăng lên.

Một khi đã bước sang tuổi băm ngoài 30 là sẽ bắt đầu thấy thể lực xuống dốc.

Cứ hễ bước vào tuổi 40 là ai cũng bắt đầu lo lắng về kết quả khám sức khỏe.

Nghe nói một khi đã về hưu, nhiều người sẽ hụt hẫng vì bỗng dưng không có việc gì làm.

Người ta bảo hễ đến tuổi lục tuần là niềm vui lớn nhất chỉ là được ngắm mặt cháu.

Cứ đến tháng 12 là khắp phố phường đường xá ngập tràn bầu không khí Giáng sinh.

Hễ vào tháng Chạp cuối năm thì ngay cả một đứa như tôi cũng phải vắt chân lên chạy.

Một khi đã sang tháng 1 là lá gan không được nghỉ ngơi vì tiệc tùng tất niên, tân niên liên miên.

Cứ đến tháng 2 là mùa thi cử thi thố bước vào giai đoạn nước rút căng thẳng nhất.

Mỗi khi xuân về là con người ta lại rạo rực muốn bắt đầu một điều gì đó mới mẻ.

Hễ cứ đến kỳ nghỉ hè là bãi biển này lại nghịt người đến tắm biển.

Cứ vào dịp lễ Obon là đường cao tốc lại tắc nghẽn kinh hoàng do dòng người ùn ùn về quê.

Hễ trời sang thu là các dãy núi đồng loạt lột xác khoác lên màu lá đỏ tuyệt đẹp.

Cứ vào thời điểm cuối năm là ai cũng thấy một năm trôi qua nhanh thoăn thoắt.

Cứ sát nút trước ngày thi là đành phải cày đêm thức trắng để nhồi nhét kiến thức.

Một khi đã nước đến chân sát deadline là tôi có thể bộc phát sự tập trung siêu phàm.

Cứ đến đêm giao thừa là cả nhà lại quây quần xem tivi theo thông lệ.

Một khi đã về đêm muộn là con phố này vắng tanh chỏm không một bóng người.

Hễ trời tờ mờ sáng sớm là tiếng chim hót líu lo nghe lại êm tai dễ chịu.

Một khi đã tính chuyện kết hôn thì đó không còn là việc riêng của hai người nữa.

Cứ hễ là đứa cháu đầu lòng thì ông bà đương nhiên sướng phát điên lên.

Hồi nhỏ không đến mức thế, nhưng hễ đến tuổi dậy thì là tần suất nói chuyện với bố mẹ giảm hẳn.

Tôi từng nghĩ một khi đã bước sang thế kỷ 21 thì ô tô chắc phải bay lượn trên trời rồi.

Cứ đến ngày làm lễ tốt nghiệp ra trường là nỗi buồn ly biệt lại dâng trào.

Một khi chú chó đã già nua thì hầu như dành cả ngày chỉ để nằm ngủ.

Một khi đã ngồi lên ghế giám đốc thì phải gánh vác toàn bộ trách nhiệm của công ty.

Đã leo lên chức trưởng phòng thì sai lầm của cấp dưới cũng tính là lỗi của mình.

Một khi đã làm trưởng nhóm, quản lý thì vị thế sẽ chuyển sang hướng dẫn, điều hành cấp dưới.

Hễ đã làm cửa hàng trưởng thì đầu việc rất ôm đồm, từ quản lý doanh thu tới xếp ca làm cho nhân viên.

Một khi đã giữ chức tổ trưởng thì sẽ được kỳ vọng gánh vác vai trò đầu tàu tại hiện trường.

Hồi mới vào công ty thì thảnh thơi thật, chứ hễ lên làm trưởng nhóm là không còn chuyện đó đâu.

Một khi đã thi đấu chuyên nghiệp thì đây là thế giới khốc liệt định đoạt hoàn toàn bằng thành tích.

Hễ vươn lên tầm cầu thủ siêu sao thế giới thì mức lương hàng năm đương nhiên tính bằng tiền trăm triệu.

Một khi đã đạt đẳng cấp Yokozuna thì thắng là nghĩa vụ, hễ sẩy chân thua trận là bị đồn giải nghệ ngay.

Đã ngồi vào ghế thủ tướng thì chỉ một phát ngôn vạ miệng cũng có thể châm ngòi thành tranh chấp quốc tế.

Một khi đã làm tổng thống thì lúc nào cũng phải căng não để tâm đến cục diện thế giới.

Đã khoác lên mình chiếc áo bác sĩ thì phải gánh vác trọng trách nắm giữ mạng sống con người.

Một khi đã hành nghề luật sư thì tư duy lập luận logic là yếu tố bắt buộc phải có.

Hễ đã làm giáo viên đứng lớp thì tư cách hành xử luôn bị đòi hỏi phải làm gương cho học trò.

Một khi đã làm cảnh sát thì dẫu vào ngày nghỉ hễ có biến cố, vụ án là vẫn phải tức tốc lao đi.

Đã là lính cứu hỏa thì bắt buộc phải có bản lĩnh lao mình vào những hiện trường hiểm nguy.

Một khi đã làm phi công cầm lái thì trách nhiệm là nắm giữ sinh mạng của hàng trăm hành khách.

Đã giữ vị trí thuyền trưởng chỉ huy thì năng lực phán đoán chuẩn xác và tài lãnh đạo là sống còn.

Một khi đã bước vào ban điều hành quản trị thì sẽ trực tiếp can thiệp vào khâu vận hành công ty.

Cứ lên làm sếp quản lý thì phần việc chính sẽ chuyển từ chuyên môn sang đôn đốc cấp dưới.

Một khi đã là vua của một nước thì ngay cả việc tự do yêu đương cũng không thể theo ý mình.

Đã làm đội trưởng thì có trọng trách lớn lao là phải gắn kết toàn đội.

Một khi đã là nhà vô địch thì sẽ bị các đối thủ bám đuổi và dè chừng gay gắt.

Cứ hễ thành người nổi tiếng là quỹ thời gian riêng tư cũng không còn nữa.

Một khi đã là đại biểu quốc hội thì bắt buộc phải lắng nghe tiếng nói của cử tri địa phương.

 

 

 

 

GIẢI THÍCH NGỮ PHÁP: ~ときたら (Trình độ N2)

Cấu trúc 「~ときたら」 được hình thành từ trợ từ と kết hợp với động từ 来る (đến) chia ở thể điều kiện たら. Đây là một mẫu câu đặc trưng dùng để đưa ra một chủ đề và bày tỏ thái độ đánh giá mang tính chủ quan sâu sắc của người nói.

Ý nghĩa

Nói về... thì... / Nếu nhắc đến... thì quả thật là...

Cứ hễ là... thì (chỉ có tiêu cực, phàn nàn).

Bản chất và Ngữ cảnh sử dụng

Đưa ra chủ đề để phê phán, phàn nàn: Người nói đưa ra một đối tượng (thường là người thân cận như chồng, con, đồng nghiệp hoặc những sự vật, hiện tượng quen thuộc hằng ngày) ở vế trước. Vế sau lập tức đưa ra những lời chỉ trích, than phiền, bất mãn hoặc bày tỏ sự thất vọng.

Sắc thái bất lực và trách móc: Cấu trúc này mang một thần thái rất rõ rệt: Người nói cảm thấy ngao ngán, bất lực hoặc tức giận khi nhắc đến đối tượng đó. Nó mang hàm ý: "Cứ nhắc đến cái đối tượng này là tôi lại thấy đau đầu, không thể chịu nổi nữa rồi."

Trường hợp ngoại lệ (Khen ngợi cực đoan): Đôi khi cấu trúc này cũng được dùng để khen ngợi một cách tuyệt đối, nhưng trường hợp này ít gặp hơn và ngữ cảnh phải cực kỳ rõ ràng. Tuy nhiên, trong cấu trúc đề thi JLPT, 90% mẫu câu này dùng cho ngữ cảnh tiêu cực (phàn nàn, nói xấu).

Văn phong: Dùng chủ yếu trong văn nói, hội thoại hằng ngày, mang tính chất thân mật, suồng sã. Không sử dụng trong văn viết trang trọng, báo cáo công sở hoặc khi nói chuyện với cấp trên.

Cấu trúc ngữ pháp

$$\text{Danh từ} + \mathbf{ときたら}$$

Ví dụ minh họa

🔸 Ngữ cảnh phàn nàn, bất mãn (Phổ biến nhất)

うちの息子ときたら、学校から帰ってきたらゲームばかりしていて、全く勉強しない。

(Nói về đứa con trai nhà tôi thì quả thật là, cứ đi học về là chỉ toàn chơi game, chẳng chịu học hành gì cả.)

最近の若い社員ときたら、挨拶もまともにできないのだから困ったものだ.

(Nhắc đến mấy nhân viên trẻ dạo gần đây thì thật là chán, ngay cả việc chào hỏi tử tế cũng không làm được, thật là đau đầu.)

新しく買ったパソコンときたら、動きが遅くて使いものにならない。

(Cứ hễ nói đến cái máy tính mới mua thì lại bực, chạy chậm rì rì chẳng được tích sự gì cả.)

🔸 Ngữ cảnh khen ngợi (Ít gặp hơn)

あのレストランの料理ときたら, どれを食べても本当に美味しい。

(Nếu nói về món ăn của nhà hàng đó thì quả thật là, món nào ăn cũng đều thực sự rất ngon.)

 

 

Nhắc đến thằng con trai nhà tôi thì chỉ có chán, suốt ngày ru rú trong phòng chơi game.

Cơ mà lão chồng nhà tôi, cứ ngày nghỉ là nằm ườn ra ngủ cả ngày.

Nói về con mèo nhà tôi thì chảnh lắm, cứ phải thức ăn đắt tiền mới chịu ăn.

Cái con chó nhà hàng xóm, nửa đêm cứ sủa ăng ẳng ồn ào không chịu nổi.

Nhắc đến ông anh trai tôi thì nản, chỉ khi nào hỏi vay tiền mới thèm liên lạc.

Con em gái tôi thì bực hết sức, cứ tự ý lấy quần áo của tôi mặc mà chẳng thèm xin phép.

Bố tôi thì chán lắm, cứ hễ uống rượu vào là lại lải nhải mãi một câu chuyện cũ.

Mẹ tôi thì hay lo hão, chuyện lớn chuyện nhỏ gì cũng xía vào nói.

Ông nội tôi thì dạo này tai nặng lắm, nói chuyện mãi chẳng hiểu nhau gì cả.

Cái thằng Tanaka đấy, lại đi họp muộn nữa rồi, không biết nói sao luôn.

Bà Suzuki đó thì ngán ngẩm, hễ mở mồm ra là lại đi nói xấu người khác.

Nhắc đến thằng Sato thì bực, rõ ràng mình sai rành rành mà nhất quyết không chịu xin lỗi.

Đứa con nhà tôi thì đau đầu, bảo ăn rau mà nó nhất quyết không chịu đụng đũa.

Lão chồng tôi thì lười, mồm bảo phụ việc nhà mà mắt cứ dán chặt vào điện thoại.

Vợ tôi thì chán, động tí là lại cằn nhằn chê lương tôi ít.

Cái đứa lính mới kia, đến một lời chào hỏi cơ bản cũng chẳng nên hồn.

Giới trẻ ngày nay thì nản thật, ăn nói trống không chẳng có phép tắc gì cả.

Cái đứa cháu nội nhà tôi, trông nó đáng yêu quá nên đòi mua cái gì tôi cũng chiều.

Cậu Takahashi thì chịu rồi, việc giao cho là quên béng ngay, đau đầu thật sự.

Cái lão Yamada đó, cứ đi hát karaoke là ôm khư khư cái mic không chịu buông.

Thằng em trai tôi thì bừa bãi, ăn bánh kẹo xong là vứt chỏng chơ đấy chẳng chịu dọn.

Bà chị tôi thì buôn dưa lê suốt ngày, máy điện thoại lúc nào cũng báo bận.

Anh người yêu tôi thì vô tâm, hẹn đi chơi mà cứ thản nhiên leo cây suốt thôi.

Cô người yêu tôi thì chịu, hễ tâm trạng không vui là im lặng cả ngày chẳng thèm nói nửa lời.

Cái đứa bé đó kén chọn kinh khủng, tật ăn uống thích ghét rõ ràng làm ai cũng mệt.

Lão sếp nhà tôi thì nản hẳn, lời nói cứ thay đổi xoành xoạch như chong chóng.

Trưởng phòng Tanaka thì tồi thật, làm sai việc gì là lại đổ vấy lên đầu cấp dưới.

Cậu đàn em Ito thì lười biếng, đang trong giờ làm việc mà suốt ngày ngủ gật.

Cái thằng Kimura đồng trang lứa, hễ tôi lập được công trạng gì là nó lại nẫng tay trên.

Cái vị khách kia thì quái gở, lúc nào cũng đưa ra mấy đòi hỏi vô lý đùng đùng.

Lão chính trị gia đó thì vô tâm, chẳng thèm mảy may nghĩ ngợi gì cho đời sống người dân.

Mấy ông nhà bình luận thì chỉ hay nói đạo lý lý thuyết suông, mồm to chứ tay chẳng làm gì.

Đứa bạn cũ ngày xưa thì chán hẳn, ngỡ lâu ngày gặp lại hóa ra lại là chèo kéo mua bảo hiểm.

Lão chồng nhà tôi thì chịu rồi, ngáy to như sấm làm tôi chẳng tài nào ngủ nổi.

Cái đứa bé sơ sinh này, sao mà nhìn nó lại đáng yêu đến nhường này không biết.

Nhân viên cái quán kia thái độ lồi lõm khó chịu, làm khách mua hàng bực cả mình.

Bác quản lý tòa nhà này thì hắc ám, quy định quy tắc gì cũng làm căng quá mức.

Ông chủ nhà đối diện thì vô ý, sáng sớm ra đã làm ầm ầm gây ồn ào cả khu.

Con chuột hamster tôi nuôi thì nghịch ngợm, đêm đến là lại chạy bánh xe làm ầm ĩ hết cả lên.

Nghĩ lại bản thân tôi ngày xưa thấy ngốc thật, toàn làm mấy trò dại dột ngớ ngẩn.

Cái điện thoại của tôi dạo này chán quá, pin sụt nhanh như tụt dốc làm tôi mệt mỏi.

Cái máy tính này thì bực mình thật, cứ đến lúc quan trọng cần việc là lại đơ máy.

Chiếc xe ô tô nhà tôi hao xăng kinh khủng, ngốn tiền đổ xăng muốn viêm màng túi.

Cái máy điều hòa kia chán đời thật, bật mãi mà phòng chẳng mát lên được tí nào.

Cái tivi này đồ rỏm rồi, mới mua được có một năm mà đã lăn quay ra hỏng.

Máy giặt mới mua rắc rối quá, lắm chức năng lằng nhằng làm tôi chẳng biết xài thế nào.

Cây dù này đểu thật, gió mới thổi nhẹ một cái mà nan ô đã gãy rụp mất rồi.

Đồ điện tử của hãng đó thì cạch mặt, đúng kiểu tiền nào của nấy, rẻ là ôi.

Cái túi xách này bất tiện ghê, mẫu mã thì đẹp đấy mà nặng chịch chẳng muốn mang đi đâu.

Cây bút bi kia đểu hết sức, vừa viết được mấy chữ đã tắc mực không ra rồi.

Cái ghế này chán thật, ngồi đau hết cả lưng.

Cái tủ lạnh nhà tôi phiền phức thật, nửa đêm cứ kêu tiếng kỳ cục.

Cái lò vi sóng này chán đời, nóng không đều chỗ sống chỗ chín.

Cái máy hút bụi kia đểu thật, hút yếu chẳng sạch tí rác nào.

Đôi giày này chán quá, cứ đi vào là bị sưng rộp cả gót chân.