Hán Việt Hán tự Ý nghĩa
Chí

(こころざ)

Hướng tới
Mãn

()たす

Đáp ứng
Bao

(わく)

Khung giới hạn
Sai Trị

偏差値(へんさち)

Điểm chuẩn
Thiện Ác

善し悪し(よしあし)

Tốt xấu
Kiến Cực

見極(みきわ)める

Nhìn thấu
Độc Tự

独自(どくじ)

Độc đáo
Kiến Đương

見当(けんとう)

Ước lượng
Quán

(つらぬ)

Giữ vững
Phục

(くぐ)

Vượt qua
Diệp

(かな)

Thành sự
Thủ Trung

手中(しゅちゅう)

Trong tay
 

すんなり

Suôn sẻ
Thủ Đắc

取得(しゅとく)

Lấy được
Thân Phân

申し分ない(もうしぶんない)

Hoàn hảo
Miễn Trừ

免除(めんじょ)

Miễn trừ
Bất Bị

不備(ふび)

Thiếu sót
Quý Hiệu

貴校(きこう)

Trường quý vị
Bất Lợi

不利(ふり)

Bất lợi
 

いずれ

Sớm muộn
Giả

(かり)

Giả sử
Lập Trực

()(なお)

Vực dậy
Thủ Tịch

首席(しゅせき)

Thủ khoa
Vân

(くも)をつかむような

Mơ hồ
Khuyến Dụ

勧誘(かんゆう)

Lôi kéo
Cơ Chủng

機種(きしゅ)

Đời máy
Đoan Mạt

端末(たんまつ)

Thiết bị
Tối Tiên Đoan

最先端(さいせんたん)

Hiện đại nhất
Tính Năng

性能(せいのう)

Tính năng
 

アップ

Nâng cao
 

バージョンアップ

Cập nhật
Sử

使(つか)いこなす

Sử dụng thạo
Sử Phân

使(つか)()ける

Dùng linh hoạt
Thủ Dẫn

手引(てび)

Hướng dẫn
Bả Ác

把握(はあく)

Nắm rõ
Gia Nhập

加入(かにゅう)

Tham gia
Quy Ước

規約(きやく)

Điều khoản
Tiến Hóa

進化(しんか)

Tiến hóa
Biến Thiên

変遷(へんせん)

Biến đổi
Phối Tín

配信(はいしん)

Phát sóng
 

むやみに

Tùy tiện
 

もってのほか

Không tưởng
Phức Số

複数(ふくすう)

Hàng loạt
Tối Đê Hạn

最低限(さいていげん)

Tối thiểu
Nhập Thủ

入手(にゅうしゅ)

Có được
 

()れる

Nhoè hình
Nặc Danh

匿名(とくめい)

Ẩn danh
Trúng Thương

中傷(ちゅうしょう)

Bôi nhọ
Phí

(つい)やす

Tiêu tốn
 

ほどほど

Vừa phải
Nhất Khái

一概(いちがい)

Đánh đồng
 

しげしげ

Chăm chú

GIẢI THÍCH NGỮ PHÁP: ~とは (Trình độ N2/N1)

Trong tiếng Nhật, trợ từ 「とは」 ngoài chức năng định nghĩa danh từ (Trình độ N3) thì ở trình độ thượng cấp, nó được sử dụng ở cuối câu hoặc giữa câu như một vĩ tố diễn tả cảm xúc mạnh mẽ của người nói trước một sự việc khách quan.

Ý nghĩa

Không ngờ rằng... / Thật là kinh ngạc khi... / Lại... đến mức ấy sao!

Bản chất và Ngữ cảnh sử dụng

Biểu thị sự kinh ngạc, sững sờ: Cấu trúc này được dùng khi người nói đối mặt với một sự thật, một kết quả hoặc một hành động hoàn toàn nằm ngoài dự tính, vượt quá sự tưởng tượng của bản thân.

Sắc thái cảm xúc đi kèm: Tùy thuộc vào bối cảnh, cấu trúc này có thể diễn tả sự ngạc nhiên thuần túy, sự thán phục trước một kỳ tích, hoặc sự thất vọng, chán nản trước một kết quả tồi tệ.

Bản chất cấu trúc (Lược bỏ vế sau): Thực chất, cấu trúc này là sự lược bỏ các cụm từ chỉ cảm xúc ở vế sau như 思わなかった (không nghĩ đến), 驚いた (kinh ngạc) hay 不思議だ (kỳ lạ). Việc dừng lại ở chữ とは làm cho câu văn mang tính lửng lơ, nhấn mạnh vào trạng thái ngẩn ngơ, không thốt nên lời của người nói.

Văn phong: Sử dụng nhiều trong văn nói (khi tự độc thoại hoặc cảm thán) và trong văn viết (tiểu thuyết, nhật ký, bài báo biểu thị quan điểm cá nhân).

Cấu trúc ngữ pháp

$$\text{Thể thông thường (Futsuukei)} + \mathbf{とは}$$

Lưu ý với Tính từ đuôi な và Danh từ: Có thể đi trực tiếp hoặc thêm だ trước とは (thông thường dạng đi trực tiếp hoặc dạng quá khứ だった được dùng nhiều hơn).

Ví dụ minh họa

これほど多くの人が私の提案に反対するとは。

(Tôi thật không ngờ lại có nhiều người phản đối đề xuất của tôi đến mức này.)

あの二人がすでに結婚していたとは、夢にも思わなかった。

(Thật kinh ngạc khi biết hai người đó đã kết hôn rồi, ngay cả trong mơ tôi cũng không nghĩ tới.)

まさか彼がオリンピックで金メダルを獲得するとは、本当に素晴らしい。

(Không thể ngờ được là anh ấy lại giành được huy chương vàng tại Thế vận hội, thật là tuyệt vời.)

信頼していた部下に裏切られるとは、情けない限りだ。

(Bị đứa cấp dưới mình hết lòng tin tưởng phản bội, thật là đau lòng và hổ thẹn quá đỗi.)

Nào ngờ lại bị người bạn thân thiết nhất phản bội, có nằm mơ tôi cũng không nghĩ đến.

Người trông đứng đắn, nghiêm túc như gã mà lại là thủ phạm, thật không thể tin nổi.

Kẻ tôi cứ ngỡ là thành thật lại có thể thản nhiên nói dối trơ trẽn đến mức này...

Luyện tập điên cuồng là thế mà lại để thua ngay từ vòng gửi xe, thật hổ thẹn hết sức.

Hai người vốn mặn nồng hạnh phúc như thế mà đùng cái ly hôn, thật là sốc.

Cô nàng lúc nào cũng cười tươi roi rói mà sau lưng lại đi nói xấu cay độc đến vậy.

Gã cả gan biển thủ thụt két công quỹ của công ty, thật không thể dung thứ.

Chỉ vì một lỗi tính toán sơ đẳng mà phá hỏng cả dự án lớn, thật tồi tệ làm sao.

Đã thề thốt hứa hẹn sắt đá như vậy mà lại dễ dàng nuốt lời, thật không thể tin nổi.

Nào ngờ con trai mình lại là kẻ đầu sỏ đi bắt nạt người khác, làm cha mẹ thật hổ thẹn.

Thua trận rồi nổi khùng đấm cầu thủ đối phương, gã không có một chút tinh thần thể thao nào.

Lúc hoạn nạn ra tay cứu vớt mà giờ gã lại lấy oán báo ơn, vong ơn bội nghĩa như vậy.

Cứ ngỡ khu phố này an ninh lắm, không ngờ lại xảy ra vụ án mạng kinh hoàng đến thế.

Đã làm sai không chịu nhận lỗi lại còn đổ vấy cho người khác, tôi nhìn lầm gã rồi.

Tập đoàn lớn tầm cỡ thế kia mà lại làm giả số liệu, uy tín thương trường coi như tiêu tùng.

Giả bệnh cáo ốm để cúp việc ở nhà đi chơi, tôi cạn lời ngán ngẩm với gã luôn rồi.

Nào ngờ chính bản thân tôi lại sập bẫy lừa đảo, cớ sự này tôi chưa từng nghĩ đến.

Thấy người phát tín hiệu cầu cứu mà gã lại ngó lơ quay đi, thật là kẻ máu lạnh.

Cứ ngỡ chỉ là một câu đùa vô tri tào lao, nào ngờ lại xé ra to thành rắc rối lớn thế này.

Vì dăm ba đồng bạc lẻ mà sẵn sàng bán đứng bạn bè, tôi nghi ngờ tư cách làm người của gã.

Người thầy hiền từ đức độ thế kia mà lại nổi khùng quát tháo lớn tiếng, hẳn là có biến lớn.

Chuyến đi mong đợi ròng rã lại bị hủy vì dính bão, số tôi đúng là đen đủi xui xẻo.

Không thể tin nổi cây ô dù của tôi cũng bị kẻ gian thó mất...

Bật mí chuyện thầm kín của người khác bừa bãi, gã đúng là loại người loa phường ba hoa.

Đầu hai thứ tóc già đầu thế này rồi mà vẫn bị bố mẹ lôi ra mắng mỏ, thật ngỡ ngàng.

Một câu nói vô tri thiếu nghĩ ngợi của gã lại sát thương người nghe đến mức này, tôi không ngờ tới.

Nhà hàng sang trọng đẳng cấp thế kia mà lại để xảy ra phốt ngộ độc thực phẩm, thật không tưởng.

Bản báo cáo tốn bao công sức thức đêm viết lại bị mất sạch sành sanh vì mất điện đột ngột.

Hả hê cười cợt trên nỗi đau bất hạnh của đồng loại, gã đúng là loại người tồi tệ.

Vị quan chức chính trị kia nhúng chàm tham nhũng bè phái, đó là sự phản bội cử tri nước nhà.

Không ngờ tôi lại bất cẩn làm rơi mất ví tiền, chính tôi còn thấy ngỡ ngàng với mình.

Sát giờ đóng cửa đóng tiệm rồi mà khách lại tràn vào đông nghịt, thật nằm ngoài dự tính.

Đứa cấp dưới tôi dốc lòng tin tưởng nuôi nấng lại lén tuồn bảo mật thông tin cho đối thủ.

Tốt bụng chìa tay cho vay tiền giúp đỡ mà giờ gã quỵt luôn không trả, thật là chua chát.

Đội bóng tôi hò hét cổ vũ hết gân cốt lại để thua một cách chóng vánh bạc nhược đến vậy.

Người cha vốn khỏe mạnh lực lưỡng là thế mà đùng cái đột quỵ ngã bệnh, thật bàng hoàng.

Đề thi lại ra trúng ngay vào đúng phần kiến thức thầy vừa mới lướt qua giảng hôm qua.

Chỉ một bài đăng bốc phốt trên Facebook mà lan truyền chóng mặt khắp thế giới, thời đại này đáng sợ thật.

Không thể tin nổi chiếc xế hộp của tôi lại bị băng nhóm trộm cắp cuỗm mất.

Cái kết của bộ phim đó lại lấy đi nhiều nước mắt và bi thảm đến vậy, tôi không ngờ tới.

Cứ ngỡ làm việc tốt giúp đỡ người ta, nào ngờ nhiệt tình cộng ngu dốt lại thành phá hoại gây phiền hà.

Căn phòng của gã bừa bộn hôi hám như chuồng lợn thế kia, tôi có nằm mơ cũng không tưởng tượng ra.

Chỉ mới quá hạn sử dụng độc nhất một ngày thôi mà ăn vào đã đau bụng tào tháo đuổi, thật hẩm hiu.

Hai người bọn họ lén lút hẹn hò qua lại sau lưng mọi người, tôi hoàn toàn mù tịt không hề hay biết.

Nào ngờ chính bản thân tôi lại bị ở lại lớp đúp môn, có nằm mơ tôi cũng không nghĩ đến kết cục này.

Chú cún ngày thường hiền lành câm lặng thế mà hôm nay lại sủa inh ỏi dữ dội đến vậy.

Chỉ từ một tàn lửa, đốm lửa nhỏ nhặt cỏn con như thế nào ngờ lại thiêu rụi thành trận đại hỏa hoạn.

Gã bắt cá hai tay lừa tình bắt cá hai hàng, đúng là loại người tồi tệ cặn bã.

Kế hoạch vốn tưởng đã hoàn hảo không tì vết, nào ngờ lại lòi ra lỗ hổng chí mạng thế này.

Lóng ngóng để trễ mất chuyến bay bay đi mất, tôi cũng tự ngán ngẩm cái sự hậu đậu của chính mình.

Người tiền bối tôi từng hết mực kính trọng lại bị kiện vì bạo hành cấp dưới, thật đáng thất vọng.

Chuyện tình cảm của idol đó bị khui ra, tư cách người hâm mộ tôi thấy rất sốc.

Nỗ lực bỏ ra hoàn toàn không được đền đáp, cuộc đời này thật bất công làm sao.

Tôi không hề biết gã lại là kẻ bảo thủ, cố chấp đến mức độ như thế.

Dự án này đến nông nỗi này rồi mà lại bị hủy bỏ, quay về vạch xuất phát ban đầu.

 

 

 

 



 

GIẢI THÍCH NGỮ PHÁP: ~ともなしに (Trình độ N1/N2)

Cấu trúc 「~ともなしに」 là một biến thể đồng nghĩa hoàn toàn với mẫu câu 「~ともなく」 mà bạn đã tìm hiểu ở phần trước. Trợ từ に ở cuối cấu trúc này đóng vai trò nhấn mạnh hơn tính chất trạng ngữ của cụm từ, diễn tả những hành động diễn ra một cách vô thức, tự nhiên và không có chủ đích.

Ý nghĩa

Tương tự như ~ともなく, cấu trúc này được chia làm hai hướng ý nghĩa chính:

Hướng 1 (Đi với Động từ): Thực hiện một hành động một cách vô định, không cố ý, trạng thái lơ đãng.

Hướng 2 (Đi với Từ nghi vấn): Từ đâu đó, từ lúc nào đó, ai đó mà không thể xác định rõ ràng, cụ thể.

Bản chất và Ngữ cảnh sử dụng

Bản chất hành động không chủ ý: Thường đi liền với một nhóm nhỏ các động từ chỉ hành vi tiếp nhận thông tin của giác quan hoặc tư duy như 見る (nhìn), 聞く (nghe), 眺める (ngắm), 考える (suy nghĩ). Nó chỉ ra rằng người nói không hề tập trung hay có ý định thực hiện hành động đó ngay từ đầu, sự việc chỉ diễn ra như một phản xạ tự nhiên của cơ thể.

Sự kết hợp từ loại: Khi đi với động từ, cấu trúc này rất thường xuyên lặp lại động từ đó theo công thức: [V-る] ともなしに [V-る]. Khi đi với từ nghi vấn, nó biến từ nghi vấn đó thành một trạng thái mơ hồ, vô định.

Văn phong: Mang sắc thái trang trọng, văn học và tinh tế. Xuất hiện phổ biến trong văn xuôi, tiểu thuyết hoặc các bài tùy bút miêu tả tâm trạng và bối cảnh không gian.

Cấu trúc ngữ pháp

👉 Đi với Động từ:

$$\text{Động từ thể từ điển } (V\text{–る}) + \mathbf{ともなしに}$$

👉 Đi với Từ nghi vấn:

$$\text{Từ nghi vấn} + (\text{Trợ từ}) + \mathbf{ともなしに}$$

Ví dụ minh họa

🔸 Dạng đi với Động từ (Hành động vô thức)

車の窓から外の景色を眺めるともなしに眺めていたら、ふと昔の恋人の姿が目に入った。

(Trong lúc đang ngắm nhìn phong cảnh bên ngoài cửa sổ xe một cách lơ đãng, chợt bóng dáng người yêu cũ lọt vào tầm mắt tôi.)

ラジオの音楽を聞くともなしに聞いていたが、いつの間にかそのメロディーに引き込まれていた。

(Tôi chỉ nghe nhạc phát ra từ radio một cách vô tình thôi, thế nhưng không biết từ lúc nào đã bị cuốn theo giai điệu ấy.)

昨夜は今後の人生について考えるともなしに考えているうちに、夜が明けてしまった。

(Đêm qua, trong lúc đang suy nghĩ vơ vẩn về cuộc đời sau này, trời đã sáng từ lúc nào không hay.)

🔸 Dạng đi với Từ nghi vấn (Nguồn gốc mơ hồ)

夜の闇の中から、だれともなしに話し声が聞こえてくる。

(Từ trong màn đêm tăm tối, tiếng nói chuyện của ai đó khẽ vang lên [không rõ là tiếng của ai].)

どこからともなしに迷い込んできた白い猫が、今では我が家の一員になっている。

(Chú mèo trắng không biết từ đâu đi lạc tới đây, giờ đã trở thành một thành viên trong gia đình chúng tôi.)

 

 

Đang nhìn bâng quơ ra ngoài cửa sổ thì một con mèo chạy ngang qua.

Anh ta cứ lật sách vô định chứ không hẳn là đang đọc.

Cứ ngắm nhìn bầu trời một cách vô định, lòng tôi lại thấy bình yên.

Cô ấy nhìn màn hình tivi một cách bâng quơ, đầu óc thả lỏng thẫn thờ.

Vô tình lật mở cuốn album cũ, tôi lại tìm thấy những bức ảnh kỷ niệm.

Đang đi dạo nhìn bâng quơ vào tủ kính, tôi vô tình bắt gặp một bộ đồ rất đẹp.

Gã nhìn chăm chăm vào một khoảng không vô định, trông như đang mải suy nghĩ.

Đang nhìn bâng quơ lên mặt nước thì một chú cá bất ngờ nhảy vọt lên.

Tôi mỉm cười một cách vô thức khi đưa mắt nhìn lũ trẻ đang chơi đùa.

Nhìn bâng quơ lên bầu trời sao, tôi thả hồn nghĩ về sự bao la của vũ trụ.

Đưa mắt nhìn dãy núi xa xăm một cách vô định, tôi chợt nhớ về quê hương.

Đưa mắt nhìn rặng cây đung đưa một cách bâng quơ, tôi lắng nghe tiếng gió thổi.

Tôi giết thời gian ở quán cà phê, ánh mắt lơ đãng nhìn dòng người qua lại.

Tôi cứ bâng quơ mân mê mấy đầu ngón tay một cách vô thức.

Vô tình đưa mắt nhìn nghiêng gương mặt gã, tôi luống cuống quay đi chỗ khác.

Tôi vẫn gõ máy liên tục, ánh mắt lơ lửng không tập trung vào màn hình.

Tôi ngồi sưởi ấm, ánh mắt thẫn thờ nhìn vào ngọn lửa trong lò sưởi.

Tôi đứng lặng bên cửa sổ, lơ đãng nhìn những giọt mưa rơi ngoài trời.

Đưa mắt nhìn bâng quơ đoàn tàu chạy qua, tôi nhẩm tính lịch trình tiếp theo.

Vô tình nhìn lên bức tranh treo tường, tôi chợt nhận ra vẻ đẹp của màu sắc nơi đó.

Vô tình nghe loáng thoáng cuộc trò chuyện bàn bên, tôi bắt gặp một câu chuyện khá thú vị.

Bật radio lên nghe bâng quơ vô thức, đằng nào lại phát trúng bài tủ tôi thích.

Cô ấy chỉ đeo tai nghe bâng quơ thế thôi chứ chẳng tập trung nghe nhạc.

Tôi thong thả đi dạo buổi sáng, tai nghe loáng thoáng tiếng chim hót líu lo.

Tôi ngồi trên ghế đá công viên, tai nghe ù ù tiếng người qua lại một cách vô thức.

Nghe tiếng gió thổi bâng quơ, tôi chợt nhận ra mùa thu đã về.

Tôi chỉ nghe bố mẹ nói loáng thoáng ù ù tai chứ chẳng nhớ nội dung là gì.

Ngồi bâng quơ nghe tiếng sóng vỗ bên bờ biển, tôi thả hồn vào những suy tư.

Nghe tiếng thở nhẹ của em bé một cách vô thức, tôi lặng ngắm gương mặt ngủ say yên bình.

Vô tình nghe loáng thoáng tiếng ai đó đang hát, giọng ca ấy liền hút hồn tôi.

Mặc cho tiếng mưa rơi bâng quơ bên tai, tôi vẫn tập trung cao độ vào cuốn sách.

Nghe loáng thoáng tiếng chuông nhà thờ vọng lại từ xa, tôi mới biết thời gian đã trôi qua.

Gã cứ ậm ừ gật đầu phụ họa một cách vô thức chứ chẳng tập trung nghe tôi nói.

Tôi đứng đợi xe buýt đến, tai lơ đãng nghe tiếng động cơ xe cộ rì rì xung quanh.

Vô tình nghe loáng thoáng tiếng cười đùa của trẻ nhỏ, lòng tôi bỗng thấy nhẹ nhõm.

Nghe tiếng suối chảy róc rách bâng quơ, tôi cảm nhận rõ mình đang hòa vào thiên nhiên.

Tôi vừa đi mua sắm vừa lơ đãng nghe tiếng nhạc nền của cửa hàng trôi qua tai.

Vô tình nghe loáng thoáng tiếng đàn piano của ai đó, tôi bất giác dừng bước lại.

Bật tivi nghe thời sự bâng quơ bản tin, không ngờ lại biết được một vụ án chấn động.

Tôi đứng đợi tàu qua, tai nghe tiếng rào chắn kêu leng keng một cách vô thức.

Tôi cứ buột miệng lẩm bẩm một cách vô thức câu "Mệt mỏi quá đi mất".

Gã cứ bâng quơ buột miệng cằn nhằn tỏ ý bất mãn với cô người yêu.

Tôi vừa lẩm bẩm tự nói một mình bâng quơ vừa sắp xếp lại các dòng suy nghĩ.

Nàng khẽ thở dài rồi buột miệng nói bâng quơ câu "Nhớ anh ấy quá".

Tôi vừa nấu ăn vừa vô thức ngân nga một giai điệu bâng quơ trong cổ họng.

Lúc chia tay, gã chỉ buột miệng nói bâng quơ một câu "Hẹn gặp lại nhé".

Tôi cứ bâng quơ mở lời kể lại những kỷ niệm ngày xưa một cách vô thức.

Đứa trẻ cứ bâng quơ lặp đi lặp lại vô thức câu "Con đói bụng quá".

Mượn chút men say, gã vô tình buột miệng nói ra toàn bộ lời lòng thật tâm.

Cứ vô tình buột miệng nói ra nỗi lo trong lòng, tôi lại thấy nhẹ nhõm đi đôi chút.

Tôi chỉ buột miệng đùa bâng quơ, không ngờ mọi người lại cười rần rần.

Lời cảm ơn buột miệng nói ra một cách vô thức ấy lại chứa chan sự chân thành.

Gã ngập ngừng như muốn thốt ra điều gì đó một cách vô thức.

Tôi bâng quơ tâm sự với người bạn thân về hoài bão tương lai.

Lời khen "Đẹp quá nhỉ" buột miệng nói ra đã làm cô ấy vui sướng.

 

 

 



GIẢI THÍCH NGỮ PHÁP: ~ともなく (Trình độ N1/N2)

Cấu trúc 「~ともなく」 là một ngữ pháp đặc sắc dùng để diễn tả những trạng thái hoặc hành động xảy ra một cách tự nhiên, không có mục đích hay ý chí định trước của con người.

Ý nghĩa

Cấu trúc này có hai hướng ý nghĩa chính dựa trên từ loại đi trước:

Hướng 1 (Đi với Động từ chỉ hành vi nhận thức): Làm việc gì đó một cách vô thức, không cố ý, tự nhiên lại làm vậy.

Hướng 2 (Đi với Từ nghi vấn): Từ đâu đó, từ lúc nào đó, ai đó (không rõ ràng, không xác định).

Bản chất và Ngữ cảnh sử dụng

Trường hợp đi với Động từ ($V\text{–る} + \text{ともなく} + V\text{–る}$)

Hành động vô thức: Cấu trúc này thường lặp lại cùng một động từ ở hai vế (ví dụ: 見るともなく見る, 聞くともなく聞く). Nó diễn tả một hành động không xuất phát từ ý chí hay sự tập trung của người nói, mà chỉ là bản năng tự nhiên (nhìn một cách vô định, nghe một cách thoáng qua).

Động từ hạn chế: Chỉ kết hợp với một số động từ chỉ giác quan hoặc nhận thức như: 見る (nhìn), 聞く (nghe), 眺める (ngắm), 考える (suy nghĩ).

Trường hợp đi với Từ nghi vấn (Từ nghi vấn $+ \text{ともなく}$)

Không rõ ràng, mơ hồ: Khi kết hợp với các từ nghi vấn như どこから (từ đâu), いつから (từ khi nào), だれから (từ ai), cấu trúc này biểu thị một nguồn gốc mơ hồ, không thể xác định rõ ràng được thời gian, địa điểm hoặc đối tượng tạo ra sự việc.

Cấu trúc ngữ pháp

👉 Đi với Động từ:

$$\text{Động từ thể từ điển } (V\text{–る}) + \mathbf{ともなく}$$

👉 Đi với Từ nghi vấn:

$$\text{Từ nghi vấn} + (\text{Trợ từ}) + \mathbf{ともなく}$$

Ví dụ minh họa

🔸 Dạng đi với Động từ (Hành động vô thức)

テレビを見るともなく眺めていたら、突然大学時代の友人が画面に映った。

(Tôi đang nhìn màn hình ti vi một cách vô định [không chăm chú] thì bỗng nhiên người bạn thời đại học xuất hiện trên màn hình.)

電車の隣の席の人の話を 聞くともなく聞いていたら、興味深い内容だった。

(Tôi vô tình nghe loáng thoáng câu chuyện của người ngồi ghế bên cạnh trên tàu điện, hóa ra nội dung lại khá thú vị.)

次に何をすべきか、考えるともなく考えているうちに眠ってしまった。

(Trong lúc đang suy nghĩ vơ vẩn về việc nên làm gì tiếp theo thì tôi đã ngủ thiếp đi từ lúc nào.)

🔸 Dạng đi với Từ nghi vấn (Nguồn gốc mơ hồ)

どこからともなく、香ばしいコーヒーの香りが漂ってきた。

(Mùi hương cà phê thơm phức từ đâu đó thoang thoảng bay đến [không rõ từ đâu].)

いつからともなく、彼らの間に冷たい空気が流れるようになった。

(Chẳng biết từ lúc nào, bầu không khí lạnh nhạt bắt đầu bao trùm lên mối quan hệ giữa họ.)

 

 

Tôi cứ sống qua ngày một cách lơ đãng, chẳng buồn nghĩ ngợi gì đến tương lai.

Gã bất giác nhớ lại những thất bại ngày xưa một cách vô thức.

Tôi cứ vò đầu bứt tai một cách vô thức về một vấn đề không có lời giải.

Cô ấy vô thức phác thảo kế hoạch cho chuyến đi tiếp theo một cách bâng quơ.

Tôi ngước nhìn bầu trời đêm, lơ đãng nghĩ ngợi vẩn vơ về sự khởi đầu của vũ trụ.

Gã cứ bâng quơ suy nghĩ làm sao để khiến cô ấy vui lòng.

Tôi đọc cuốn sách triết học, đầu óc lơ đãng nghĩ ngợi bâng quơ về ý nghĩa cuộc đời.

Tôi lơ đãng nhìn cuốn thực đơn mà chẳng nghĩ ngợi xem trưa nay ăn gì.

Gã cứ vô thức ghép các mảnh hình lại với nhau một cách bâng quơ.

Vô thức hoài niệm về quá khứ khiến lòng tôi bỗng thoáng chút chạnh lòng.

Cô ấy lơ đãng hình dung bâng quơ về cái tên định đặt cho đứa trẻ.

Tôi cứ cắm cúi đi bộ liên tục, đầu óc trống rỗng không mảy may nghĩ cách giải quyết.

Gã cứ vô thức dò xét ẩn ý đằng sau câu nói đó một cách bâng quơ.

Tôi lơ đãng phân tích nguyên nhân mà chẳng định tâm nghĩ kỹ xem tại sao lại như vậy.

Cô ấy vô thức hình dung bâng quơ về việc thay đổi cách bài trí trong phòng.

Tôi lơ đãng nhìn vào cuốn lịch mà không hề có ý định tính toán lịch trình ngày mai.

Gã lơ đãng tính toán nước đi tiếp theo trên bàn cờ một cách vô thức.

Tôi xem bản tin thời sự, đầu óc mơ màng nghĩ bâng quơ về hòa bình thế giới.

Cô ấy vô thức mường tượng bâng quơ về cái kết của câu chuyện.

Gã cứ lơ đãng suy ngẫm vẩn vơ về sự tồn tại của chính mình.

Đang đứng đợi tàu một cách vô định thì tôi tình cờ chạm mặt người bạn cũ.

Gã cứ vô thức ngân nga một giai điệu xưa cũ một cách bâng quơ.

Tôi cứ lật giở các trang tạp chí một cách bâng quơ chứ không thực sự chú tâm đọc.

Tôi giết thời gian bằng việc vô thức nhổ vài cọng cỏ dại trong vườn.

Cô ấy nghe gã nói chuyện, bàn tay vô thức vân vê mấy lọn tóc một cách lơ đãng.

Tôi chơi trò ném đá liệng mặt nước một cách bâng quơ vô thưởng vô phạt.

Gã chỉ gảy bâng quơ vài hợp âm guitar chứ không định chơi một bản nhạc cụ thể.

Tôi vừa vô thức mở hờ cánh cửa thì một chú mèo liền lẻn vào nhà.

Tôi cứ lướt mạng bâng quơ, xem hết trang này đến trang khác một cách vô định.

Cô ấy cứ lơ đãng mân mê cuộn len chứ không có ý định đan lát gì.

Gã cứ tâng bóng bâng quơ một cách vô thức để luyện cảm giác chân.

Vô tình mở bừa chiếc hộp cũ ra, tôi thấy bên trong có một món đồ chơi ngày xưa.

Gã lơ đãng đưa mắt nhìn vào đám đông một cách vô định chứ chẳng tìm kiếm ai.

Tôi vô thức bấm bừa vào cái nút, thế nào nhạc lại nổi lên vang lên.

Cô ấy đưa chiếc khăn tay lên mắt một cách vô thức chứ không hẳn là lau nước mắt.

Gã trưng ra khuôn mặt ngái ngủ, vô thức ngáp ngắn ngáp dài một cách bâng quơ.

Cứ vô thức lau chùi cửa kính bâng quơ, lát sau cảnh vật bên ngoài hiện ra rõ mười mươi.

Tôi lơ đãng ngó nghiêng tìm đồ trong tủ lạnh một cách bâng quơ chứ chưa định nấu gì.

Gã cứ vô định lái xe đi dạo quanh, tận hưởng chuyến đi đêm bâng quơ.

Cô ấy dạo bước trong vườn, lơ đãng thưởng thức hương hoa thoang thoảng một cách vô thức.

Gã đứng trước gương, tay vô thức chỉnh lại chiếc cà vạt một cách lơ đãng.

Tôi vô thức xắn tay áo sơ mi lên một cách bâng quơ lơ đãng.

Cô ấy lơ đãng nhìn vào tủ kính trưng bày trang sức một cách bâng quơ.

Gã cứ lơ đãng đưa tách lên miệng nhấp môi một cách vô thức.

Tôi đưa tay vẫy bâng quơ theo bóng chiếc xe buýt đang từ từ rời bến.

Cô ấy khẽ gật đầu một cách vô thức, trông như thể đang đồng tình với gã.

Gã cứ vô thức vươn vai bâng quơ để thả lỏng cơ thể bớt mỏi.

Tôi vô thức nhịp nhịp bước chân theo nhịp điệu của bài hát vang lên.

Cô ấy khẽ phe phẩy chiếc quạt giấy một cách vô thức để giải nhiệt.

Gã cứ bâng quơ cầm chiếc mũ trên tay một cách vô thức chứ không đội lên đầu.