Hán Việt Hán tự Ý nghĩa
Đơn Vị

単位(たんい)

Đơn vị
 

トン

Tấn
 

リットル

Lít
 

パーセント

Phần trăm
Hiên

(けん)

Căn nhà
Bội

(ばい)

Gấp đôi
Hồi Số

回数(かいすう)

Số lần
Xuất Bản

出版(しゅっぱん)

Xuất bản
Thư Tịch

書籍(しょせき)

Sách vở
Tạp Chí

雑誌(ざっし)

Tạp chí
Từ Điển

辞典(じてん)

Từ điển
Bách Khoa Sự Điển

百科事典(ひゃっかじてん)

Bách khoa toàn thư
Biểu Chỉ

表紙(ひょうし)

Bìa sách
Mục Thứ

目次(もくじ)

Mục lục
Trứ Giả

著者(ちょしゃ)

Tác giả sách
Bút Giả

筆者(ひっしゃ)

Người viết
Nguyên Cảo

原稿(げんこう)

Bản thảo
Dẫn Dụng

引用(いんよう)

Trích dẫn
Ngữ

()

Từ ngữ

()

Cụm từ
Chủ Ngữ

主語(しゅご)

Chủ ngữ
Danh Từ

名詞(めいし)

Danh từ
Động Từ

動詞(どうし)

Động từ
Hình Dung Từ

形容詞(けいようし)

Tính từ
Phó Từ

副詞(ふくし)

Phó từ
Ngạn Ngữ

(ことわざ)

Tục ngữ
Phương Ngôn

方言(ほうげん)

Tiếng địa phương
Tính Cách

性格(せいかく)

Tính cách
Thái Độ

態度(たいど)

Thái độ
Minh

(あか)るい

Tươi sáng
Tố Trực

素直(すなお)

Ngoan ngoãn
Lạc

大人(おとな)しい

Hiền lành
我が儘

我が儘(わがまま)

Ích kỷ
Thắng Thủ

勝手(かって)

Tùy tiện
Vô Trách Nhiệm

無責任(むせきにん)

Vô trách nhiệm
Bất Chân Diện Mục

不真面目(ふまじめ)

Không nghiêm túc
Ý Địa Ác

意地悪(いじわる)

Xấu tính
Kiảo

(ずる)

Gian xảo
吝嗇

吝嗇(けち)

Keo kiệt
Chính Trực

正直(しょうじき)

Chính trực
Lễ Nghi Chính

礼儀正(れいぎただ)しい

Lễ phép
Thượng Phẩm

上品(じょうひん)

Lịch sự tinh tế
Hạ Phẩm

下品(げひん)

Thô bỉ thấp kém

Bản chất cấu trúc ふりをする

Cấu trúc ふりをする (thường được viết bằng Hiragana, ít khi dùng chữ Hán 振りをする) là một mẫu ngữ pháp thuộc trình độ N3.

Bản chất của cấu trúc này dùng để diễn tả một hành động giả vờ, giả bộ, cố tình tạo ra một vẻ bề ngoài hoặc một trạng thái không có thật nhằm che giấu đi thực tế. Người nói muốn nói rằng đối phương (hoặc chính mình) đang "diễn" một vai nào đó để đánh lừa người xung quanh hoặc để lánh né một tình huống khó xử.

Trong tiếng Việt, cấu trúc này tương đương với: "Giả vờ...", "Giả bộ...", "Làm bộ như là...".

Cách chia cấu trúc

Cấu trúc này kết hợp với thể thông thường (thể ngắn) của các từ loại và bổ nghĩa cho danh từ ふり giống như một danh từ thông thường:

Danh từ + の + ふりをする Động từ thể thông thường + ふりをする Tính từ đuôi い + ふりをする Tính từ đuôi な + な + ふりをする

Các ngữ cảnh sử dụng thực tế

Giả vờ không biết, không nghe, không thấy để né tránh rắc rối

Dùng cực kỳ phổ biến trong cuộc sống khi bạn hoặc ai đó chủ động lập một "lá chắn" ngó lơ trước một sự việc để bản thân không bị cuốn vào.

彼は知っているふりをするが、実は何も分かっていない。 (Anh ta cứ làm bộ như là biết tuốt ấy, nhưng thực ra chẳng hiểu cái mô tê gì đâu.)

道で嫌いな人に会ったので、気づかないふりをして通り過ぎた。 (Gặp phải người mình ghét trên đường nên tôi đã giả vờ như không nhận ra rồi đi thẳng luôn.)

聞こえないふりをするのはやめて、ちゃんと私の話を聞いてよ! (Đừng có mà giả bộ điếc nữa, nghe tôi nói tử tế xem nào!)

Giả vờ trạng thái cơ thể hoặc cảm xúc (Đang ngủ, bận rộn, ổn)

Dùng khi thực tế bên trong một đằng nhưng biểu hiện ra bên ngoài một nẻo nhằm phục vụ cho một mục đích cá nhân nào đó.

お母さんが部屋に入ってきたとき、私は寝たふりをした。 (Lúc mẹ bước vào phòng, tôi đã giả vờ là mình đang ngủ.)

話しかけられたくなかったので、忙しいふりをしてパソコンに向かっていた。 (Vì không muốn bị ai bắt chuyện nên tôi đã giả bộ bận rộn rồi dán mắt vào máy tính.)

彼女は寂しいのに、いつも元気なふりをする。 (Cô ấy dù trong lòng rất cô đơn nhưng lúc nào cũng tỏ ra là mình đang ổn/vui vẻ.)

田中さんは独身のふりをしているが、実は結婚していて子供もいる。 (Anh Tanaka cứ giả vờ như mình còn độc thân, chứ thực ra kết hôn và có con rồi đấy.)

Phân biệt nhanh giữa ふりをする và ようにする

〜ようにする: Cố gắng làm... Diễn tả việc bạn nỗ lực, hướng tới việc hình thành một thói quen hoặc thực hiện một hành động tốt đẹp một cách thật lòng (Ví dụ: Tôi cố gắng [ようにする] ăn nhiều rau xanh hằng ngày).

〜ふりをする: Giả vờ... Mang tính chất "diễn sâu", giả tạo, lừa dối để tạo ra một vỏ bọc không có thật nhằm đối phó với hoàn cảnh trước mắt (Ví dụ: Tôi giả vờ [ふりをする] là đã hiểu bài để thầy giáo không hỏi thêm nữa).

Vì thấy người tiền bối mà mình không thích đi từ phía đối diện lại, nên tôi đã giả vờ như đang gọi điện thoại.

Vì có vẻ câu chuyện sẽ trở nên rắc rối nên tôi đã giả vờ như đang vội để rời khỏi chỗ đó.

Vì không muốn bị ai bắt chuyện khi đang trên tàu điện nên tôi lúc nào cũng giả vờ ngủ.

Vì anh ta bắt đầu khoe khoang nên tôi đã giả vờ như đang nhìn ra ngoài cửa sổ.

Thực ra là tôi có nghe thấy nhưng vì không tiện nên đã giả vờ như không nghe thấy gì.

Tôi tình cờ thấy người yêu cũ trên phố nhưng đã giả vờ như không nhận ra và đi thẳng.

Tôi lỡ chạm mắt với thầy giáo nhưng đã giả vờ như đang giải bài tập và cúi mặt xuống.

Vì muốn trốn lượt trực nhật nên tôi đã giả vờ đau bụng.

Vì không muốn tham gia thảo luận nên tôi đã giả vờ như đang tập trung vào công việc khác.

Tôi được mời đi nhậu nhưng đã giả vờ là có hẹn rồi để từ chối.

Vì không muốn trả lời câu hỏi đó nên tôi đã giả vờ như đang suy nghĩ lung lắm.

Tôi nhận ra ánh mắt của anh ấy nhưng đã giả vờ như đang đọc sách.

Vì trong bữa tiệc có món tôi ghét nên tôi đã giả vờ là mình đã no bụng.

Vì không muốn giúp dọn dẹp nên tôi đã giả vờ như mình đang mệt.

Dù phản đối ý kiến của anh ta nhưng trước hết tôi đã giả vờ như đang đồng tình.

Chuông cửa nhà reo nhưng tôi đã giả vờ không có nhà và không ra mở cửa.

Trước những câu đùa nhạt nhẽo của anh ta, tôi đã giả vờ như không quan tâm.

Thực ra là tôi đang rảnh nhưng đã giả vờ bận để từ chối lời rủ đi chơi.

Vì không muốn ở lại chỗ đó nên tôi đã giả vờ như mình thấy không khỏe.

Điện thoại công ty reo nhưng tôi đã giả vờ như không có ai ở đó.

Nghĩ rằng nếu làm vẻ mặt nghiêm trọng thì sẽ không ai bắt chuyện, nên tôi đã giả vờ như đang đọc một cuốn sách khó.

Để tránh những người đang vận động quyên góp, tôi đã giả vờ đột ngột băng qua đường.

Vì câu chuyện của anh ta chán ngắt nên tôi đã giả vờ như đang để ý đồng hồ.

Thực ra là tôi đã nhận ra nhưng tôi đang giả vờ như không biết về thất bại của bạn mình.

Tôi bị hỏi ý kiến nhưng đã giả vờ như mình chẳng đang nghĩ gì cả.

Vì không muốn bị thấy đang khóc nên tôi đã giả vờ như có bụi bay vào mắt.

Vì muốn chạy khỏi chỗ đó nên tôi đã giả vờ như vừa sực nhớ ra việc gấp.

Tôi nghe thấy người ta đang nói xấu mình nhưng đã giả vờ như đang nghe nhạc.

Vì chẳng biết gì về vụ đó nên tôi đã giả vờ như mình không phải là chuyên gia.

Khi cuộc truy tìm thủ phạm bắt đầu, anh ta đã giả vờ như mình chẳng liên quan gì.

Thực ra là tôi rất buồn nhưng trước mặt mọi người tôi đã giả vờ như không sao cả.

Dù rất tiếc vì trượt kỳ thi nhưng trước mặt bạn bè tôi đã giả vờ như mình không thấy hối tiếc.

Dù ghen tị với thành công của anh ấy nhưng tôi đã giả vờ như đang thực tâm chúc mừng.

Dù rất run trước khi thuyết trình nhưng tôi đã giả vờ như mình đang tràn đầy tự tin.

Dù rất khổ sở sau khi chia tay người yêu nhưng trong giờ làm việc tôi đã giả vờ như mình vẫn ổn.

Dù bị tổn thương bởi lời nói của anh ấy nhưng tôi đã giả vờ như hoàn toàn không bận tâm.

Dù phim kinh dị rất đáng sợ nhưng vì có bạn bè ở đó nên tôi đã giả vờ như không sợ.

Dù không hề bất ngờ với bữa tiệc ngạc nhiên nhưng tôi đã giả vờ như mình vô cùng kinh ngạc.

Thực ra là tôi đang rất bất an nhưng trước mặt lũ trẻ tôi đã giả vờ bình tĩnh.

Dù rất thích anh ấy nhưng tôi lại cứ hay giả vờ như không có chút hứng thú nào.

Vì mọi người đều đang cười nên dù không thấy hài hước tôi cũng đã giả vờ như thú vị lắm và cười theo.

Dù rất muốn khóc vì thua trận nhưng tôi đã mỉm cười giả vờ như đang chúc phúc cho đối thủ.

Dù lo cho anh ấy vô cùng nhưng tôi đã giả vờ như tin rằng mọi chuyện sẽ ổn thôi.

Dù không ưng món quà lắm nhưng tôi đã giả vờ như mình đang rất vui sướng.

Tôi không hiểu câu đùa của anh ta nhưng đã giả vờ như đã hiểu và gật đầu.

Thực ra là tôi đang giận nhưng đã giả vờ như đã tha thứ rồi.

Dù bị mắng mà chẳng hề hối cải nhưng tôi đã giả vờ làm bộ dạng ủ rũ.

Dù rất vui vì lâu rồi mới được gặp nhưng vì ngại nên tôi đang giả vờ làm ra vẻ lạnh lùng (cool ngầu).

Dù thất vọng với câu chuyện của anh ta nhưng tôi đã giả vờ như mình đang rất khâm phục.

Thực ra là tôi đang thấy cô đơn nhưng tôi đang giả vờ như ở một mình vẫn không sao.

 

 

 

Bản chất cấu trúc と言われる

Cấu trúc と言われる là thể bị động (受け身 - Ukemi) của động từ 言う (Nói).

Bản chất của cấu trúc này dùng để diễn tả việc người nói (hoặc một đối tượng nào đó) bị/được một người khác nói, nhắc nhở, khen ngợi hoặc phê bình.

Tuy nhiên, trong thực tế đời sống và đề thi JLPT, cấu trúc này còn có một biến thể cực kỳ quan trọng là 「〜と言われている」, dùng để chỉ một quan niệm chung, một lời đồn hoặc một sự thật được dư luận/số đông mọi người công nhận.

Trong tiếng Việt, tùy vào ngữ cảnh mà cấu trúc này được dịch là: "Bị nói là...", "Được bảo là...", "Người ta nói rằng...".

Cách chia cấu trúc

Cấu trúc này kết hợp với thể thông thường (thể ngắn) trước trợ từ と:

Danh từ + だ + と言われる Động từ thể thông thường + と言われる Tính từ đuôi い + と言われる Tính từ đuôi な + だ + と言われる

Các ngữ cảnh sử dụng thực tế

Cấu trúc này được chia làm hai nhóm ý nghĩa lớn dựa trên đuôi câu:

Dạng 〜と言われる / 〜と言われた (Bị/Được ai đó nói trực tiếp)

Dùng khi có một đối tượng cụ thể (thường đi với trợ từ に) nói điều gì đó tác động lên bạn. Nếu là lời chê bai thì mang nghĩa "bị nói", nếu là lời khen ngợi hoặc lời khuyên từ bác sĩ/bề trên thì mang nghĩa "được bảo/được khuyên".

先生に「もっと頑張りなさい」と言われた。 (Tôi bị/được thầy giáo bảo là "Hãy cố gắng hơn nữa đi".)

彼女に「いっしょにいると楽しい」と言われて、嬉しかった。 (Được cô ấy nói là "Ở bên anh vui lắm" nên tôi đã rất hạnh phúc.)

医者にお酒を飲むなと言われている。 (Tôi đang bị bác sĩ nghiêm cấm là không được uống rượu.)

Dạng 〜と言われている (Người ta nói rằng / Người ta cho rằng)

Đây là ngữ cảnh dùng để nói về ý kiến chung của xã hội, của dư luận hoặc các nhà khoa học. Lúc này, chủ ngữ "người nói" không phải là một cá nhân cụ thể nào cả, mà là "số đông công chúng".

日本人は真面目で働く民族だと言われている。 (Người ta nói rằng/Cho rằng người Nhật Bản là một dân tộc chăm chỉ và cần cù.)

今年は例年より夏が暑くなると言われています。 (Người ta dự báo rằng mùa hè năm nay sẽ nóng hơn mọi năm.)

納豆は体に良いと言われているので、毎日食べています。 (Vì nghe người ta bảo là món Natto rất tốt cho cơ thể nên ngày nào tôi cũng ăn.)

Phân biệt nhanh giữa と言われている và んだって

Cả hai đều liên quan đến việc truyền đạt lại lời nói của người khác, nhưng không gian sử dụng khác nhau hoàn toàn:

〜んだって: Thấy bảo là... / Nghe nói là... Dùng trong khẩu ngữ, hội thoại hằng ngày để buôn chuyện về một thông tin mang tính chất tin đồn, tai nghe mắt thấy giữa hai người (Ví dụ: Nghe nói anh Yamada sắp cưới vợ đấy).

〜と言われている: Người ta cho rằng... Dùng nhiều trong văn viết, báo chí, bản tin hoặc diễn thuyết. Nó mang tính chất khách quan, vĩ mô, nói về một nhận định chung của một tập thể lớn hoặc cả xã hội chứ không phải là lời buôn chuyện phiếm.

 

 

 

Anh ấy được mệnh danh là thiên tài trăm năm có một, và ai nấy đều công nhận tài năng đó.

Bơ, loại quả được gọi là "bơ của rừng xanh", có giá trị dinh dưỡng cực kỳ cao.

Bờ biển này, nơi được cho là đẹp nhất thế giới, rất đáng để đến thăm một lần.

Cửa hàng đó, nơi được mệnh danh là tiệm mì ramen huyền thoại, luôn có hàng dài người xếp hàng từ trước khi mở cửa.

Anh ấy được gọi là phù thủy thời hiện đại, kỹ thuật đồ họa CG của anh ấy hoàn toàn áp đảo những người khác.

Tôi đã quyết định nghỉ hè năm nay sẽ đi đến làng Achi, nơi được mệnh danh là có bầu trời sao đẹp nhất Nhật Bản.

Amazake, thứ được gọi là "dịch truyền dạng uống", rất hiệu quả trong việc phòng ngừa mệt mỏi do nắng nóng mùa hè.

Cô ấy bị gọi là nữ hoàng băng giá, nhưng thực tế lại là một người rất nhân hậu.

Anh ấy đã đỗ ngay từ lần đầu trong kỳ thi được cho là khó nhất thế giới này.

Vị chuyên gia phê bình ẩm thực được mệnh danh là "sở hữu chiếc lưỡi của thần linh" đó có thể nhận ra cả những khác biệt nhỏ nhất trong hương vị.

Chính anh ấy, người được gọi là lập trình viên huyền thoại, đã một mình xây dựng nên hệ thống này.

Vị giám đốc trẻ tuổi được gọi là "đứa con của cách mạng" trong ngành đang liên tiếp gặt hái thành công với các mảng kinh doanh mới.

Di tích thành Takeda, nơi được gọi là "lâu đài trên không", có dáng vẻ ảo diệu khi nổi trên biển mây.

Loại rượu vang này được mệnh danh là "rượu của các vị vua", chỉ được mở vào những ngày đặc biệt.

Anh ấy được gọi là bảo vật của làng bóng chày, người hâm mộ tập trung tại sân vận động chỉ để xem anh ấy thi đấu.

Tôi đã may mắn được đến nhà hàng được cho là khó đặt chỗ nhất Nhật Bản đó.

Cô ấy biết nhiều từ vựng đến mức được gọi là "cuốn từ điển sống".

Viên kim cương này bị gọi là "viên đá của ác quỷ", tương truyền rằng ai sở hữu nó cũng sẽ gặp bất hạnh.

Thành phố này, nơi được ví là "Venice của phương Đông", có hệ thống kênh rạch tuyệt đẹp và rất thu hút khách du lịch.

Ông ấy bị gọi là "con quỷ kinh doanh", nhưng trước mặt gia đình lại là một người cha hiền từ.

Để ngắm cái cây được cho là cây hoa anh đào đẹp nhất Nhật Bản này, mọi người từ khắp cả nước đổ về đây.

Giọng hát của cô ấy, thứ được gọi là "giọng hát phép màu", có sức mạnh chữa lành trái tim người nghe.

Bức tranh này được cho là kiệt tác để đời của ông ấy, chắc hẳn nó sẽ được định giá rất cao trong buổi đấu giá.

Ông ấy được mệnh danh là "quái vật trên chính trường", sức ảnh hưởng của ông ấy là không thể đo đếm được.

Chúng tôi đã trải qua kỳ nghỉ tại hòn đảo này, nơi được mệnh danh là "thiên đường cuối cùng trên mặt đất".

Loại trà này được coi là liều thuốc trường sinh bất lão, ngày xưa chỉ có hoàng đế mới được dùng.

Cô ấy được mệnh danh là biểu tượng của ngành thời trang, những bộ đồ cô ấy mặc luôn cháy hàng ngay lập tức.

Tòa thành này, thứ được gọi là "bất khả chiến bại", chưa bao giờ bị đánh bại cho đến tận ngày nay.

Anh ấy được tôn vinh là huyền thoại của làng bóng đá Nhật Bản và đã truyền cảm hứng cho rất nhiều cầu thủ.

Cảnh sắc thung lũng này, thứ được mệnh danh là "tác phẩm nghệ thuật của thượng đế", đẹp đến mức nghẹt thở.

Chú chó này được gọi là "chó trung thành", nó đã đợi chủ nhân trở về trong suốt nhiều năm trời.

Ông ấy được gọi là "Edison vùng Naniwa", ông đã tạo ra vô số phát minh độc đáo.

Cảnh đêm được ví như "viên đá quý phương Bắc" này là một trong những sức hút lớn của Hakodate.

Thanh kiếm Nhật này bị gọi là "yêu đao", có truyền thuyết kể rằng nó mang lại tai ương cho người sở hữu.

Cô ấy được khen ngợi là có "nụ cười triệu đô", làm say đắm biết bao người hâm mộ.

Tầm nhìn từ nơi được gọi là "tuyệt cảnh dãy Alps Nhật Bản" này thực sự vô cùng ngoạn mục.

Anh ấy được gọi là "Quý ngài hoàn hảo", bất cứ việc gì giao cho anh ấy cũng được hoàn thành một cách mỹ mãn.

Tôi muốn được ăn thử một lần món bánh pancake của khách sạn này, nơi được mệnh danh là có "bữa sáng ngon nhất thế giới".

Ông ấy được tôn vinh là bậc thầy của làng văn và tác phẩm của ông đã được dịch ra khắp thế giới.

Tôi treo trong phòng bức ảnh về địa điểm này, nơi được mệnh danh là "tuyệt cảnh phải đến một lần trong đời".

Vì người ta nói rằng Natto giúp làm máu lưu thông tốt nên tôi cố gắng ăn mỗi sáng.

Mặc dù người ta bảo ngủ sớm dậy sớm tốt cho sức khỏe nhưng thật khó để thực hiện.

Người ta thường bảo mèo thất thường hơn chó, nhưng con mèo nhà tôi lại rất hay nũng nịu.

Vì quy tắc ăn uống điều độ 3 bữa một ngày được cho là quan trọng nên tôi luôn cố gắng không bỏ bữa sáng.

Vận động điều độ được cho là có hiệu quả giải tỏa căng thẳng nên tôi cũng đã bắt đầu đi tập gym.

Đúng như câu nói "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã", xung quanh anh ấy có rất nhiều người tốt bụng.

Hố đen được cho là hút cả ánh sáng, và vẫn còn rất nhiều bí ẩn xoay quanh nó.

Vì người ta nói "nụ cười mang phúc đến" nên ngay cả những lúc khó khăn tôi cũng luôn cố gắng mỉm cười.

Người ta bảo ngủ 8 tiếng một ngày là lý tưởng, nhưng thực tế thì việc đó khá khó khăn.

Vì người ta nói "con cái lớn lên bằng cách nhìn vào lưng cha mẹ" nên tôi muốn làm một tấm gương tốt trước mặt con mình.

 

 

 

 

Bản chất cấu trúc と思われる

Cấu trúc と思われる là thể bị động (受け身 - Ukemi) hoặc thể tự phát (自発 - Jihatsu) của động từ 思う (Nghĩ).

Bản chất của cấu trúc này dùng để đưa ra một nhận định, phán đoán hoặc suy nghĩ mang tính khách quan, trung lập. Thay vì nói thẳng tuột là "Tôi nghĩ là..." (〜と思う), việc chuyển sang thể bị động と思われる giúp người nói giảm bớt cái tôi chủ quan. Nó tạo cho người nghe cảm giác rằng nhận định này được đưa ra dựa trên việc phân tích các bằng chứng, dữ liệu thực tế, và khả năng cao là số đông mọi người khi nhìn vào tình huống đó cũng sẽ có chung suy nghĩ như vậy.

Do tính chất trang trọng, khách quan và có tính lập luận cao, cấu trúc này được sử dụng cực kỳ nhiều trong văn viết, báo chí, các bản tin thời sự, báo cáo công việc hoặc các bài luận nghiên cứu.

Trong tiếng Việt, cấu trúc này tương đương với: "Được cho là...", "Có lẽ là...", "Nhìn chung có thể thấy rằng...", "Dường như...".

Cách chia cấu trúc

Cấu trúc này kết hợp trực tiếp với thể thông thường (thể ngắn) trước trợ từ と:

Danh từ + (だ)* + と思われる Động từ thể thông thường + と思われる Tính từ đuôi い + と思われる Tính từ đuôi な + (だ)* + と思われる

💡 Lưu ý về văn phong: Trong văn viết trang trọng, đối với Danh từ và Tính từ đuôi な, người ta thường thay thế だ bằng である (Ví dụ: 無理だと思われる 無理であると思われる).

Các ngữ cảnh sử dụng thực tế

Đưa ra phán đoán về nguyên nhân, kết quả của một sự việc (Trong báo chí, tin tức)

Dùng khi các phóng viên hoặc điều tra viên đưa ra nhận định ban đầu về một vụ tai nạn, một hiện tượng xã hội dựa trên các dấu vết tại hiện trường.

火事は、コンセントからの漏電が原因だと思われる。 (Vụ hỏa hoạn được cho là có nguyên nhân xuất phát từ việc rò rỉ điện ở ổ cắm.)

犯人はすでに海外へ逃亡したものと思われる。 (Dựa trên tình hình hiện tại, có lẽ tên tội phạm đã trốn ra nước ngoài.)

今回の売上減少は、新商品の開発遅れが ảnh hưởng していると思われる。 (Việc sụt giảm doanh thu lần này dường như chịu ảnh hưởng từ sự chậm trễ trong việc phát triển sản phẩm mới.)

Thể hiện quan điểm cá nhân một cách lịch sự, khách quan (Trong báo cáo, nghị luận)

Dùng khi bạn muốn trình bày ý kiến của mình với sếp hoặc trong một bài luận văn. Cách nói này giúp câu văn của bạn có sức nặng, mang tính chuyên nghiệp hơn là chỉ dùng 〜と思う.

この計画を成功させるには, さらなる予算の追加が必要だと思われます。 (Để kế hoạch này thành công, tôi nhận thấy rằng việc bổ sung thêm ngân sách là điều cần thiết.)

彼の提案は一見良さそうだが、実現は難しいと思われる。 (Đề xuất của anh ấy nhìn qua thì có vẻ tốt, nhưng nhìn chung có thể thấy rằng việc hiện thực hóa nó rất khó khăn.)

Phân biệt nhanh giữa と思う và と思われる

〜と思う: Tôi nghĩ là... Mang tính chất chủ quan 100%, dựa hoàn toàn vào cảm xúc, suy nghĩ mang tính cá nhân của riêng người nói. Dùng nhiều trong giao tiếp hằng ngày (Ví dụ: Tôi nghĩ ngày mai trời sẽ mưa).

〜と思われる: Được cho là... / Có lẽ là... Mang tính chất khách quan, dựa trên bằng chứng. Người nói cố tình giấu cái tôi của mình đi để biến nhận định đó thành một kết luận có tính logic, thuyết phục người nghe hơn (Ví dụ: Dựa trên bản đồ mây vệ tinh, có thể thấy rằng ngày mai trời sẽ mưa).

 

 

 

 

Từ dấu chân để lại hiện trường, hung thủ được cho là nam giới.

Theo nhân chứng kể lại, chiếc xe được cho là đã lao đi với tốc độ kinh hoàng.

Vì căn phòng không có dấu hiệu bị lục lọi, vụ án được cho là do người quen gây ra.

Vì không tìm thấy di chúc, việc điều tra được cho là cần thiết ở cả hai phương diện án mạng và tai nạn.

Vì cửa chính đã được khóa nên hung thủ được cho là đã đột nhập từ cửa sổ.

Do có dấu vết chống trả của nạn nhân, hung thủ được cho là có nhiều người.

Do đám cháy bùng phát dữ dội, nguyên nhân hỏa hoạn được cho là có khả năng cao do cố ý phóng hỏa.

Vì không thấy động cơ rõ ràng nào, vụ án được cho là hành vi phạm tội ngẫu nhiên (không phân biệt đối tượng).

Vì lời khai của anh ta có nhiều mâu thuẫn, anh ta được cho là đang che giấu điều gì đó.

Từ hình ảnh camera an ninh, hung thủ được cho là đã trốn ra nước ngoài.

Cân nhắc tình hình tại hiện trường, thời điểm gây án được cho là khoảng 10 giờ đêm qua.

Vì thứ bị mất chỉ là tiền mặt, vụ án được cho là phạm tội với mục đích chiếm đoạt tiền bạc.

Anh ta khẳng định có bằng chứng ngoại phạm, nhưng lời khai đó được cho là thiếu độ tin cậy.

Nguyên nhân trực tiếp của tai nạn được cho là do tài xế ngủ gật khi lái xe.

Nếu đối chiếu dấu vân tay để lại, việc xác định hung thủ được cho là chỉ còn là vấn đề thời gian.

Vì am hiểu địa lý vùng này, hung thủ được cho là người dân địa phương.

Nếu tìm hiểu các mối quan hệ bạn bè của nạn nhân, một manh mối nào đó được cho là sẽ tìm thấy.

Vì là thủ đoạn của dân chuyên nghiệp, đằng sau được cho là có sự liên quan của một tổ chức lớn.

Vì không tìm thấy xác máy bay, cuộc tìm kiếm được cho là sẽ kéo dài.

Vì thông tin nội bộ công ty bị rò rỉ, người ta cho rằng có kẻ tiếp tay ở bên trong.

Nghe nói vào lúc xảy ra vụ án anh ta ở nơi khác, nên chứng cứ ngoại phạm được cho là hợp lệ.

Nếu có thể giải mã được mật mã này, chúng ta được cho là sẽ tiến gần hơn tới chân tướng vụ việc.

Vì anh ta đang gánh khoản nợ lớn, điều đó được cho là động cơ gây án.

Vì hiện trường không có dấu vết giằng co, nạn nhân được cho là đã không hề cảnh giác với hung thủ.

Vì được phát hiện muộn, việc xác định chính xác thời gian tử vong được cho là rất khó khăn.

Thủ đoạn này được cho là do cùng một hung thủ trong vụ trộm liên hoàn cách đây 3 năm thực hiện.

Vì anh ta có tâm lý không ổn định, vụ án được cho là không phải một hành vi phạm tội có kế hoạch.

Vùng biển nơi con tàu mất liên lạc có thời tiết xấu, nên thời tiết khắc nghiệt được cho là nguyên nhân tai nạn.

Vì lần cuối anh ta được nhìn thấy là ở sân ga, nên người ta cho rằng anh ta đã di chuyển bằng tàu điện.

Cân nhắc giá trị số đá quý bị trộm, hung thủ được cho là có ý định đem ra nước ngoài tiêu thụ.

Do doanh thu giảm 10% so với tháng trước, người ta cho rằng cần phải có biện pháp đối phó nào đó.

Từ kết quả khảo sát, phân khúc khách hàng mục tiêu cho sản phẩm mới được cho là phụ nữ ở độ tuổi 20 là phù hợp.

Vì giá cổ phiếu công ty A đang tăng vọt, người ta cho rằng sắp tới sẽ có tin tốt được công bố.

Vì thị trường này vẫn đang trong giai đoạn phát triển, hiện tại được cho là thời cơ tốt để gia nhập.

Vì bài thuyết trình của anh ấy có sức thuyết phục, bản hợp đồng lần này được cho là sẽ diễn ra suôn sẻ.

Do các đối thủ cạnh tranh đã giảm giá, công ty chúng ta được cho là cũng cần xem xét lại giá cả.

Vì tình trạng đồng Yên mất giá vẫn tiếp diễn, giá các mặt hàng nhập khẩu vào tháng tới được cho là sẽ tăng lên.

Vì dự án này đang thiếu hụt ngân sách, việc thu hẹp kế hoạch được cho là cần thiết.

Nếu xét về kinh nghiệm và kỹ năng của anh ấy, anh ấy được cho là người phù hợp nhất để làm trưởng nhóm cho công việc này.

Từ việc khiếu nại của khách hàng ngày càng tăng, người ta cho rằng chất lượng sản phẩm đang có vấn đề.

Vì nhân viên mới năm nay có nhiều người tài năng, tương lai của công ty được cho là rất tươi sáng.

Vì cứ thế này sẽ không kịp thời hạn bàn giao, các biện pháp như tăng thêm nhân sự được cho là việc cấp bách.

Có lẽ hiệu quả quảng cáo đang phát huy, lượt truy cập vào trang web được cho là đang tăng lên đáng kể.

Vì công ty đó đang bị đồn đoán gặp khủng hoảng kinh doanh, việc giao dịch được cho là cần phải thận trọng.

Sự đổi mới công nghệ trong lĩnh vực này rất mạnh mẽ, thị trường được cho là sẽ thay đổi lớn sau vài năm nữa.

Vì thái độ của anh ta trong cuộc họp rất thụ động, anh ta được cho là đang phản đối phương án này.

Vì giá nguyên liệu thô đang tăng vọt, chi phí sản xuất sản phẩm được cho là cũng sẽ tăng theo.

Vì khu vực này đang được tái quy hoạch, giá đất trong tương lai được cho là sẽ tăng lên.

Bản báo cáo của anh ta thiếu dữ liệu, nếu cứ thế này thì được cho là không thể tiếp nhận được.

Vì tình trạng suy thoái này sẽ kéo dài thêm một thời gian, số doanh nghiệp phá sản được cho là sẽ còn tăng thêm.