Hán Việt Từ vựng Tiếng Việt
Việt

()

Vượt qua
Yêu

(こし)

Eo lưng
Cố Chướng

故障(こしょう)

Hỏng hóc
Cá Nhân

個人(こじん)

Cá nhân
Việt

()

Vượt qua
Siêu

()

Vượt quá
Ngôn Diệp

言葉(ことば)

Ngôn từ
Đoạn

(ことわ)

Từ chối
Phấn

(こな)

Bột
Gian

この(いだ)

Gần đây
Khoảnh

この(ごろ)

Dạo này
Tế

(こま)

Chi tiết
Tế

(こま)かい

Chi tiết
Khốn

(こま)

Khó khăn
Vào

()

Đông đúc
Mễ

(こめ)

Gạo
Tiểu Ốc

小屋(こや)

Túp lều
Ngự Lãm

御覧(ごらん)

Xem
Ngưng

()

Say mê
Chuyển

(ころ)がす

Lăn
Chuyển

(ころ)がる

Bị lăn
Sát

(ころ)

Giết
Chuyển

(ころ)

Ngã
Kim Hồi

今回(こんかい)

Lần này
Hỗn Hợp

混合(こんごう)

Hỗn hợp
Kim Độ

今度(こんど)

Lần tới
Khốn Nan

困難(こんなん)

Khó khăn
Kim Nhật

今日(こんにち)

Ngày nay
Hôn Ước

婚約(こんやく)

Đính hôn
Hỗn Loạn

混乱(こんらん)

Hỗn loạn
Sai

()

Chênh lệch
Tế

(さい)

Khi dịp
Tối Cận

最近(さいきん)

Gần đây
Tối Cao

最高(さいこう)

Cao nhất
Tài Sản

財産(ざいさん)

Tài sản
Tối Chung

最終(さいしゅう)

Cuối cùng
Thôi Xúc

催促(さいそく)

Thúc giục
Tối Đê

最低(さいてい)

Thấp nhất
Thải Điểm

採点(さいてん)

Chấm điểm
Tài Năng

才能(さいnou/さいのう)

Tài năng
Tài Phán

裁判(さいばん)

Xét xử
Tài Liệu

材料(ざいりょう)

Nguyên liệu
Cảnh

(さか)

Ranh giới
Nghịch

(さか)らう

Chống đối
Thịnh

(さか)

Đỉnh điểm
Tác Nghiệp

作業(さぎょう)

Công việc
Tác Phẩm

作品(さくひん)

Tác phẩm
Tác Vật

作物(さくもつ)

Hoa màu
Anh

(さくら)

Anh đào
Tửu

(さけ)

Rượu
Khiếu

(さけ)

Kêu gào
Tị

()ける

Né tránh
Hạ

()げる

Hạ xuống
Chi

(ささ)える

Chống đỡ
Chỉ

()

Chỉ trỏ
Thứ

()

Đâm chọc
Sáp

()

Cắm vào
Tọa Tịch

座席(ざせき)

Chỗ ngồi
Dụ

(さそ)

Mời mọc
Trát

(さつ)

Tiền giấy
Sát Nhân

殺人(さつじん)

Sát nhân
Sa Mạc

砂漠(さばく)

Sa mạc
Sai Biệt

差別(さべつ)

Phân biệt
Tác Pháp

作法(さほう)

Phép tắc
Dạng

様々(さまざま)

Đa dạng
Lãnh

()める

Nguội đi
Giác

()める

Tỉnh giấc
Tả Hữu

左右(さゆう)

Trái phải
Canh

(さら)

Hơn nữa
Khứ

()

Rời bỏ
Viên

(さる)

Con khỉ
Tao

(さわ)

Ồn ào
Tao

(さわ)

Làm ồn
Xúc

(さわ)

Chạm vào
Tham Gia

参加(さんか)

Tham gia
Sản Nghiệp

産業(さんぎょう)

Công nghiệp
Tham Khảo

参考(さんこう)

Tham khảo
Tán Thành

賛成(さんせい)

Tán thành
Toan Tố

酸素(さんそ)

Oxy
Tán Bộ

散歩(さんぽ)

Đi dạo
Thị

()

Họ
Hạnh

(しあわ)

Hạnh phúc
Sĩ Thượng

()上げ

Hoàn tất
Sĩ Thượng

()上げる

Hoàn thiện
Cường

()いる

Bắt buộc
Triều

(しお)

Thủy triều
Nha Khoa

歯科(しか)

Nha khoa
Trực

(じか)

Trực tiếp
Sĩ Phương

仕方(しかた)

Cách làm
Thời Gian

時間(じかん)

Thời gian
Thức

(しき)

Lễ nghi
Thời Kỳ

時期(じき)

Thời kỳ
Chí Cấp

至急(しきゅう)

Khẩn cấp
Phu

()

Trải ra
Thứ Kích

刺激(しげき)

Kích thích
Tư Nguyên

資源(しげん)

Tài nguyên
Sự Kiện

事件(じけん)

Vụ án
Sự Cố

事故(じこ)

Tai nạn
Thời Khắc

時刻(じこく)

Thời khắc
Tự Sát

自殺(じさつ)

Tự sát
Sự Thật

事実(じじつ)

Sự thật
Chi Xuất

支出(ししゅつ)

Chi phí
Sự Tình

事情(じじょう)

Lý do
Thi Nhân

詩人(しじん)

Nhà thơ
Tự Thân

自身(じしん)

Bản thân
Tự Tin

自信(じしん)

Tự tin
Địa Chấn

地震(じしん)

Động đất
Trầm

(しず)

Chìm xuống
Tự Nhiên

自然(しぜん)

Tự nhiên
Tư Tưởng

思想(しそう)

Tư tưởng
Tử Tôn

子孫(しそん)

Con cháu
Thứ Đệ

次第(しだい)

Tùy vào
Sự Thái

事態(じたい)

Tình thế
Tùng

(したが)

Tuân theo
Thân

(した)しい

Thân thiết
Hạ Thư

下書(したが)

Bản nháp
Hạ Trực

下着(したぎ)

Đồ lót
Sĩ Độ

仕度(したく)

Chuẩn bị
Thân

(した)しみ

Thân mật
Thân

(した)しむ

Thân mật
Hạ Đinh

下町(したまち)

Khu phố cổ
Tự Trị

自治(じち)

Tự trị

Cấu trúc 「~際」(さい - Sai) là một mẫu ngữ pháp thuộc trình độ N3 (xuất hiện rất nhiều trong bài thi N2/N1). Chữ Hán của từ này là 「際」 (chữ "Tế" trong quốc tế, giao tế, có nghĩa là thời điểm, dịp).

Bản chất của 〜際 là một dạng văn phong trang trọng, lịch sự hơn của 「とき」 (Khi). Cấu trúc này được dùng để diễn tả một thời điểm, một hoàn cảnh hoặc một dịp đặc biệt nào đó mà một hành động hoặc sự việc xảy ra.

Ý nghĩa tiếng Việt: "Khi...", "Vào lúc...", "Nhân dịp...".

Công thức cấu tạo và Cách chia

Cấu trúc này chủ yếu kết hợp với Động từ hoặc Danh từ theo quy tắc sau:

Động từ thể từ điển (V-u) + 際(に / は): Khi/Vào lúc chuẩn bị thực hiện hành động.

Ví dụ: 使う際 (Khi sử dụng).

Động từ thể quá khứ (V-ta) + 際(に / は): Sau khi hoặc vào lúc hành động đã xảy ra.

Ví dụ: 帰国した際 (Vào lúc về nước).

Danh từ + の + 際(に / は): Chỉ đi với các danh từ mang tính chất hành động (như 外出, 非常, 利用).

Ví dụ: 非常の際 (Trong trường hợp khẩn cấp).

Các ví dụ minh họa thực tế

カードを紛失した際は、すぐに銀行に連絡してください。

(Vào lúc làm mất thẻ (Thời điểm xảy ra sự việc), xin hãy liên lạc ngay với ngân hàng (Hành động cần làm).)

日本へ留学する際に、たくさんの人が空港に見送りに来てくれた。

(Khi chuẩn bị đi du học Nhật Bản, đã có rất nhiều người đến sân bay để tiễn tôi.)

こちらの施設をご利用の際は、受付でサインをお願いします。

(Khi sử dụng cơ sở vật chất ở đây, xin vui lòng ký tên tại quầy lễ tân.)

Điểm cần lưu ý về Sắc thái văn phong

Người học cần nắm vững quy tắc ngầm về hoàn cảnh sử dụng của cấu trúc này để không dùng sai ngữ cảnh:

Là văn viết và lối nói trang trọng: 〜際 chủ yếu xuất hiện trong văn bản hướng dẫn công cộng, thông báo chính thức, email công việc, hoặc khi phát biểu trang trọng. Người Nhật không dùng cấu trúc này trong hội thoại suồng sã hằng ngày với bạn bè (không nói: Tí nữa khi đi ngủ $\rightarrow$ 寝る際).

Chỉ đi với hành động có ý chí hoặc sự kiện rõ ràng: Thường đi kèm với các từ chỉ sự thông báo, yêu cầu, hoặc hướng dẫn hành động cụ thể ở vế sau (〜てください, 〜が必要です).

⚠️ Trận chiến phòng thi: Phân biệt 「〜際」 và 「〜とき」

Mặc dù đều dịch là "Khi", nhưng đề thi sẽ lừa người học dựa vào các yếu tố sau:

〜とき (Mọi trường hợp): Dùng được cho cả văn nói lẫn văn viết, cuộc sống hằng ngày lẫn công việc. Có thể đi với mọi loại từ (tính từ, động từ trạng thái kéo dài như 若いとき - khi còn trẻ, 病気のとき - khi bị ốm).

〜際 (Chỉ dùng cho hành động/sự kiện trang trọng): Không đi với tính từ, không đi với từ chỉ trạng thái tự nhiên thông thường. Chỉ đi với động từ hành động hoặc danh động từ.

Lỗi sai kinh điển: 寒い際は、コートを着てください。(Sai - vì 寒い là tính từ tự nhiên, không dùng với 際).

Sửa đúng: 寒いときは、コートを着てください。(Đúng).

Phương pháp xác định khi làm bài tập

Khi làm bài tập trắc nghiệm, bí quyết để chọn chính xác 際 là:

Nhìn vào văn phong của cả câu. Nếu câu văn mang tính chất hướng dẫn, cảnh báo, hoặc thông báo công cộng tại nhà ga, sân bay, công ty, và từ đứng trước là một động từ hành động (利用する, 購入する, 外出する) hoặc danh từ hành động $\rightarrow$ Hãy ưu tiên chọn 「〜際」.

Khi đi ra nước ngoài, nhất định hãy kiểm tra thời hạn hiệu lực của hộ chiếu.

Khi sử dụng phòng họp, cần phải điền vào biểu mẫu đăng ký trước.

Khi cài đặt phần mềm này, hãy đọc kỹ thỏa thuận cấp phép sử dụng.

Khi đăng ký, hãy điền các thông tin cần thiết vào mẫu đơn này.

Khi gửi sản phẩm đi sửa chữa, đừng quên đính kèm theo giấy bảo hành.

Khi lấy đồ vật ở trên cao, cần chú ý để chân đứng không bị mất thăng bằng.

Khi mượn sách ở thư viện, phải xuất trình thẻ người dùng.

Khi làm thủ tục nhận phòng khách sạn, việc xuất trình giấy xác nhận đặt phòng sẽ giúp mọi việc thuận tiện hơn.

Khi vận hành máy móc, nhất định hãy đọc qua sách hướng dẫn an toàn.

Khi vứt rác, hãy phân loại đúng cách theo quy định của chính quyền địa phương.

Khi nói chuyện với khách hàng, tôi luôn chú ý sử dụng từ ngữ lịch sự.

Khi vào căn phòng này, hãy cởi giày và thay bằng dép đi trong nhà.

Khi xuống tàu, chúng ta hãy kiểm tra xem có quên đồ gì trong toa không nhé.

Khi bắt đầu một dự án mới, việc khảo sát thị trường kỹ lưỡng là không thể thiếu.

Khi gia hạn hợp đồng, việc xác nhận lại xem nội dung có gì thay đổi không là rất quan trọng.

Khi xảy ra mất điện, hãy bình tĩnh đợi đèn khẩn cấp bật sáng.

Khi tôi đến thăm quý công ty hôm trước, xin cảm ơn quý vị đã dành thời gian tiếp đón dù bận rộn.

Lúc chúng ta gặp nhau lần trước, tôi đã giải thích sơ qua về vụ việc này.

Khi đi thi nhập học, do căng thẳng nên tôi đã không thể thể hiện hết năng lực như mong muốn.

Khi đi du lịch nước ngoài lần đầu tiên, tôi đã rất ngạc nhiên trước sự khác biệt về văn hóa.

Khi thành lập công ty, tôi đã nhận được sự hỗ trợ từ rất nhiều bạn bè.

Lúc con chào đời, tôi đã quyết định tham gia bảo hiểm giáo dục cho con.

Khi máy tính bị hỏng, tôi đã liên lạc ngay với trung tâm hỗ trợ.

Khi mua căn nhà này, tôi đã cân nhắc đến cả tương lai và lựa chọn rất thận trọng.

Khi dự án thành công, toàn đội đã tổ chức một bữa tiệc ăn mừng linh đình.

Lúc thực hiện bài thuyết trình, tôi đã lúng túng khi nhận được một vài câu hỏi sắc sảo.

Những chuyện lúc lần đầu gặp anh ấy, đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in.

Khi đi du học về nước, tôi đã gặp chút khó khăn trong việc nói tiếng Nhật.

Chúng tôi xin cảm ơn quý vị đã đưa ra những ý kiến quý báu khi trả lời khảo sát.

Lúc nhận được bằng lái xe, tôi đã tự hứa với lòng mình là sẽ lái xe an toàn.

Lúc động đất xảy ra, tôi vừa đúng lúc đang ở trong thang máy.

Khi lập báo cáo, hãy đặt tính chính xác của dữ liệu lên hàng đầu.

Khi phát biểu, việc nhìn vào mắt thính giả khi nói là rất quan trọng.

Khi phát hiện có hỏa hoạn, việc hô to để báo cho mọi người xung quanh là rất quan trọng.

Khi uống thuốc mới, nhất định hãy tuân theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Khi mở tài khoản ngân hàng, bạn sẽ cần có giấy tờ tùy thân.

Khi vay vốn, bạn nên lập một kế hoạch trả nợ thật kỹ lưỡng.

Lúc bố trí hội trường, chúng tôi đã phát hiện ra có sai sót trong việc sắp xếp thiết bị.

Khi tôi gửi email hỏi thông tin, đã có ngay một thư trả lời rất lịch sự.

Anh ấy đã không hề rơi lệ trong buổi họp báo lúc tuyên bố giải nghệ.

Khi phát triển hệ thống này, chúng tôi đã chú trọng nhất vào sự dễ dùng cho người sử dụng.

Chúng tôi đã phát sổ tay ứng phó khi có tai nạn xảy ra cho tất cả các bộ phận.

Khi máy bay cất cánh, hãy tắt nguồn các thiết bị điện tử.

Khi nói chuyện với người bề trên, bạn phải chú ý đến cách sử dụng kính ngữ.

Lúc tôi gọi điện hôm trước, không biết có ông Suzuki phụ trách ở đó không ạ?

Khi tham gia sự kiện, tôi đã có rất nhiều cuộc gặp gỡ mới.

Tôi sẽ giải thích chi tiết về bối cảnh lúc ban hành quy định này.

Khi đi bỏ phiếu, tôi đã thận trọng bỏ lá phiếu theo suy nghĩ của riêng mình.

Anh ấy tâm sự rằng lúc quyết định thăng chức được đưa ra, anh cảm thấy sức nặng của trách nhiệm hơn là niềm vui.

Khi nộp báo cáo, hãy ghi rõ mã số sinh viên và họ tên ở trang bìa.

 

 

Cấu trúc 「~たつもり・~ているつもり」 mang ý nghĩa "Nghĩ rằng là...", "Cứ ngỡ là...", "Đinh ninh là... (nhưng thực tế lại không phải như vậy)" là một ngữ pháp rất hay thuộc trình độ N3/N2.

Bản chất của cấu trúc này là diễn tả một trạng thái chủ quan trong tâm trí người nói: Họ tự tin, tin tưởng hoặc đinh ninh rằng mình đã làm xong hoặc đang ở trong trạng thái đó rồi, nhưng thực tế khách quan hoặc kết quả nhận lại thì hoàn toàn ngược lại (lí ra là đã làm nhưng thực ra chưa làm, hoặc làm chưa đủ).

Ý nghĩa tiếng Việt: "Cứ ngỡ là...", "Đinh ninh là đã...", "Tưởng là...", "Xem như là...".

Công thức cấu tạo

Cấu trúc này chủ yếu kết hợp với Động từ ở thể Quá khứ, thể Tiếp diễn hoặc Tính từ, Danh từ:

Động từ thể Quá khứ (V-ta) + つもり (Nghĩ rằng lí ra là đã làm rồi nhưng thực tế chưa làm hoặc có sai sót).

Ví dụ: 書いたつもり (Tưởng là đã viết rồi).

Động từ thể Tiếp diễn (V-teiru) + つもり (Bản thân nghĩ là đang làm tốt nhưng người khác không đánh giá như vậy).

Ví dụ: やっているつもり (Cứ ngỡ là mình đang làm đúng/làm tốt).

Tính từ / Danh từ + の + つもり

Ví dụ: 若いつもり (Tự nghĩ là mình còn trẻ - dù thực tế đã có tuổi).

Các ví dụ minh họa thực tế

Để hiểu rõ cấu trúc này, bạn cần nhìn vào sự mâu thuẫn giữa Suy nghĩ chủ quan (Vế trước) và Thực tế khách quan (Vế sau):

窓を閉めたつもりだったが、帰ったら開いていた。

(Tôi đinh ninh là/cứ ngỡ là đã đóng cửa sổ rồi, nhưng khi về nhà thì cửa lại đang mở.)

$\rightarrow$ Thực tế: Lí ra là đã đóng theo trí nhớ của người nói, nhưng thực tế là chưa đóng hoặc đóng chưa chặt.

メールを送信したつもりなのに、送信トレイに残っていた。

(Tôi tưởng là/cứ ngỡ là đã gửi email rồi, thế mà nó vẫn nằm trong hộp thư nháp.)

自分では一生懸命やっているつもりですが、先輩にいつも怒られます。

(Bản thân tôi nghĩ rằng/cho rằng mình đang làm việc hết sức lo liệu, nhưng lúc nào cũng bị tiền bối mắng.)

$\rightarrow$ Thực tế: Sự nỗ lực của người nói chưa đạt yêu cầu dưới góc nhìn của người khác.

まだ若いつもりだったが、階段を上るとすぐに息が切れる。

(Tôi cứ ngỡ là mình vẫn còn trẻ, vậy mà cứ leo cầu thang là lại thở dốc ngay.)

Sắc thái mở rộng: "Xem như là / Coi như là"

Cấu trúc này còn có một cách dùng biến thể rất phổ biến khi đi với trợ từ 「で」: 「~たつもりで」 (Với tâm niệm là... / Coi như là...).

Người nói thực hiện một hành động B bằng cách giả định hoặc tưởng tượng mình đang ở trạng thái A (dù thực tế không phải).

旅行に行ったつもりで、そのお金を貯金した。

(Tôi coi như là/giả vờ như là mình đã đi du lịch rồi, và đem số tiền đó đi tiết kiệm.)

$\rightarrow$ Thực tế: Không hề đi du lịch, nhưng tâm niệm là đã đi để tích lũy tiền.

Điểm cốt lõi để phân biệt với các ý nghĩa khác của 「つもり」

Học viên rất dễ bị lẫn lộn cấu trúc này với nghĩa sơ cấp vì từ つもり có đến 3 nghĩa lớn:

V-u + つもりです (Dự định): Diễn tả kế hoạch tương lai (Ví dụ: 日本に行くつもりです - Tôi định đi Nhật).

V-nai + つもりです (Quyết tâm không làm): (Ví dụ: もうお酒は飲まないつもりです - Tôi quyết tâm không uống rượu nữa).

V-ta / V-teiru + つもり (Cứ ngỡ là / Tưởng là): Chính là cấu trúc đang giải thích ở trên.

Mẹo nhận biết khi làm bài: Khi thấy つもり đi với thể quá khứ (V-ta) hoặc thể tiếp diễn (V-teiru), vế sau thường xuất hiện các từ nối chỉ sự ngược đời, bất ngờ như ~が (nhưng), ~のに (thế mà), ~けれど (tuy nhiên) $\rightarrow$ Chắc chắn câu đó mang ý nghĩa "Lí ra là / Cứ ngỡ là nhưng thực tế ngược lại".

 

Tôi chỉ định nói đùa thôi, vậy mà anh ấy lại cho là thật rồi nổi giận.

Tôi cứ ngỡ là mình đã dọn dẹp phòng sạch sẽ rồi, nhưng lại bị mẹ chỉ trích là "vẫn còn bẩn".

Tôi đinh ninh là mình đã khóa cửa cẩn thận rồi, thế mà về đến nhà thì cửa lại đang mở.

Tôi định bụng lên tiếng để động viên anh ấy, nhưng ngược lại bị bảo là "hãy để tôi yên".

Tôi cứ tưởng là mình đã giải thích hoàn hảo rồi, nhưng chẳng ai hiểu được ý đồ của tôi cả.

Tôi cứ nghĩ giúp đỡ là tốt, vậy mà lại bị mắng là "đừng có làm chuyện thừa thãi".

Bản thân cứ ngỡ mình đã hoàn toàn trở thành người lớn, nhưng tôi đã thấm thía rằng mình vẫn còn rất non nớt.

Tôi đinh ninh là đã kiểm tra kỹ rồi, vậy mà lại gửi nhầm địa chỉ email.

Tôi cứ ngỡ là mình đã quên câu chuyện đó rồi, vậy mà vào một khoảnh khắc bất chợt, nó lại hiện về rõ mồn một.

Tôi cứ tưởng thế là đã giải quyết xong vấn đề, nhưng thực ra còn ẩn chứa những rắc rối sâu xa hơn.

Tôi cứ ngỡ là mình đã giấu tài liệu quan trọng kỹ rồi, vậy mà lại bị bọn trẻ tìm thấy một cách dễ dàng.

Tôi định chỉ vỗ nhẹ vào lưng thôi, nhưng lực quá mạnh làm đối phương lảo đảo.

Tôi định bụng làm việc tốt nên nhường ghế, nhưng lại làm người ta phật lòng vì "đừng coi tôi là người già".

Bản thân cứ ngỡ là bệnh đã khỏi rồi, nhưng bác sĩ bảo vẫn cần phải tĩnh dưỡng.

Tôi cứ đinh ninh là chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng rồi, vậy mà lại quên mất thứ quan trọng nhất cho chuyến đi là hộ chiếu.

Câu chuyện tôi cứ ngỡ là sẽ giữ bí mật, không biết từ lúc nào đã lan ra khắp lớp.

Tôi cứ tưởng mình đã đưa ra ý kiến một cách khách quan, nhưng lại bị chỉ ra là chứa đựng khá nhiều cái nhìn chủ quan.

Lời nói tôi định dùng để khen ngợi, lại bị đối phương hiểu lầm thành lời mỉa mai.

Tôi cứ ngỡ mình đã tha thứ cho anh ấy, nhưng trong lòng vẫn chưa nguôi ngoai được những khúc mắc.

Tôi cứ ngỡ mình đã lén ăn bánh kẹo không ai hay, nhưng quanh miệng vẫn còn dính socola.

Anh ta cứ ngỡ đó là bí mật chỉ mình mình biết, nhưng thực ra mọi người đều đã biết sự thật đó.

Tôi tham gia với ý định giúp sức cho cô ấy, nhưng rốt cuộc lại trở thành kẻ ngáng chân.

Tôi cứ ngỡ mình đang đối xử công bằng với họ, nhưng có lẽ tôi đã vô tình phân biệt đối xử.

Tôi cứ ngỡ mình đã quyết tâm không khóc nữa, vậy mà khi xem bộ phim cảm động, nước mắt cứ thế tuôn rơi.

Tôi cứ tưởng mình thấu hiểu tâm trạng của cô ấy, nhưng rồi nhận ra đó hoàn toàn là sự hiểu lầm của riêng tôi.

Tôi định làm vì mục đích tốt, nhưng mọi thứ lại phản tác dụng hoàn toàn.

Tôi đinh ninh mình đã nói rõ sự thật cho anh ấy, vậy mà anh ấy chẳng tin tôi chút nào.

Tôi cứ ngỡ mình đã hiểu hết mọi chuyện, nhưng hóa ra vẫn còn rất nhiều sự thật mà tôi không hề biết.

Tôi cứ đinh ninh là mình đã thuyết phục được anh ấy, nhưng anh ấy chẳng hề thấy thỏa đáng chút nào.

Tôi cứ ngỡ mình không còn giận nữa, nhưng hễ nhìn thấy mặt anh ta là cơn giận lại nổi lên.

Tôi cứ tưởng mình đã phán quyết công bằng, nhưng nghĩ lại thì có lẽ tôi đã hơi thiên vị.

Tôi cứ ngỡ mọi chuyện thế là đã xong xuôi, nhưng những rắc rối mới lại liên tiếp nảy sinh.

Tôi cứ tưởng mình đã xóa bỏ hết chuyện xưa (để nước cuốn trôi), nhưng không thể quên đi dễ dàng như vậy.

Tôi cứ tưởng đã hoàn thành hết bài tập, nhưng lại bỏ sót phần câu hỏi ở mặt sau.

Tôi cứ đinh ninh mình đã đối xử dịu dàng với anh ấy, nhưng hình như anh ấy lại cảm thấy tôi lạnh lùng.

Tôi cứ ngỡ mình đã hoàn toàn quên được rồi, vậy mà lại mơ thấy anh ấy.

Tôi định bụng sẽ làm anh ấy phấn chấn lên, nhưng vì không tìm được lời nào để nói nên đành im lặng.

Tôi cứ tưởng mình đã trốn rất kỹ, vậy mà lại bị tìm thấy ngay lập tức.

Tôi cứ đinh ninh là mình đã nói chuyện bình tĩnh, nhưng nghe kể lại thì hình như lúc đó giọng tôi đã run rẩy.

Anh ta có lẽ cứ ngỡ là đã giúp một tay, nhưng thực tế hầu như là một mình tôi làm hết.

Cô ấy cứ đinh ninh là mình đang ăn kiêng, nhưng hôm qua vẫn ăn sạch cả một ổ bánh kem.

Tôi cứ ngỡ mình đã hiểu lý lẽ của anh ấy, nhưng sau đó nghe lại thì hóa ra cách hiểu hoàn toàn khác biệt.

Tôi cứ đinh ninh mình mặc đồ theo mốt mới nhất, vậy mà lại bị bảo là "cái đó thịnh hành từ 10 năm trước rồi mà".

Tôi cứ tưởng mình đang tiết kiệm, vậy mà cứ đến cuối tháng là tiền bạc lại thiếu hụt.

Câu đùa tôi định nói để làm cô ấy cười, hóa ra lại làm bầu không khí trở nên lạnh tanh.

Tôi cứ ngỡ mình không còn cảm giác gì với anh ấy nữa, nhưng khi thấy anh ấy đi cùng cô gái khác, tim tôi vẫn thấy nhói đau.

Tôi đinh ninh là mình đến đúng giờ, hóa ra đồng hồ của tôi đã chạy chậm 5 phút.

Tôi cứ ngỡ mình chỉ đang gợi ý cho anh ấy, nhưng thực ra gần như đã chỉ luôn đáp án mất rồi.

Anh ta có lẽ định tỏ ra khiêm tốn, nhưng đối với tôi những lời đó nghe chẳng khác gì đang khoe khoang.

Tôi cứ đinh ninh là mình đã bỏ thuốc rồi, vậy mà vì căng thẳng nên lại lỡ hút mất một điếu.

 

 

 

 

Cấu trúc 「~たつつもりで / ~ているつもりで」 là dạng biến thể mở rộng rất phổ biến của ngữ pháp つもり (đã giải thích ở lượt trước), thuộc trình độ N3/N2.

Bản chất của cấu trúc này là diễn tả một hành động giả định hoặc một trạng thái tưởng tượng. Người nói tự đặt mình vào tâm thế, tư thế hoặc suy nghĩ là: "Coi như sự việc A đã xảy ra/đang xảy ra rồi" để lấy đó làm động lực, làm căn cứ thực hiện một hành động B ở vế sau, mặc dù thực tế khách quan hoàn toàn không phải như vậy.

Ý nghĩa tiếng Việt: "Với tâm niệm là...", "Coi như là...", "Giả vờ như là...", "Tưởng tượng như là...".

Công thức cấu tạo

Cấu trúc này chủ yếu đi với Động từ ở thể Quá khứ (V-ta), thể Tiếp diễn (V-teiru) hoặc đôi khi đi với Danh từ:

Động từ thể Quá khứ (V-ta) + つもりで (Giả định như hành động đã hoàn thành để làm việc khác).

Ví dụ: 買ったつもりで (Coi như là đã mua rồi).

Động từ thể Tiếp diễn (V-teiru) + つもりで (Giữ tâm thế như thể mình đang trong trạng thái đó).

Ví dụ: 日本にいるつもりで (Với tâm niệm như thể đang ở Nhật).

Danh từ + の + つもりで

Ví dụ: プロのつもりで (Với tư thế/tâm tâm niệm của một chuyên nghiệp).

Các ví dụ minh họa thực tế

Để hiểu rõ cấu trúc này, bạn cần phân biệt rõ Sự thật thực tế và Hành động được thực hiện dựa trên sự tưởng tượng:

旅行に行ったつもりで、そのお金を貯金することにした。

(Tôi quyết định đem số tiền đó đi tiết kiệm, coi như là mình đã đi du lịch rồi.)

$\rightarrow$ Thực tế: Người nói không hề đi du lịch, nhưng họ giả định là đã tiêu số tiền đó vào việc đi du lịch để có lý do cất tiền đi tích lũy.

今日が本番のつもりで、一生懸命リハーサルをしてください。

(Hãy tổng duyệt hết sức mình với tâm thế coi như hôm nay là ngày biểu diễn chính thức.)

$\rightarrow$ Thực tế: Hôm nay chỉ là buổi diễn thử (rehearsal), nhưng đạo diễn muốn mọi người tưởng tượng như diễn thật để nghiêm túc hơn.

死んだつもりで頑張れば、どんな困難も乗り越えられる。

(Nếu cố gắng với tâm niệm như thể là mình đã chết rồi, thì khó khăn nào cũng có thể vượt qua.)

$\rightarrow$ Thực tế: Ý nói dốc hết toàn lực, không màng sống chết để làm việc.

先生になったつもりで、友達に勉強を教えてみてください。

(Cậu hãy thử dạy học cho bạn mình với tư cách/tâm thế như thể mình là giáo viên xem sao.)

Điểm khác biệt giữa 「〜つもり」 và 「〜つもりの」 / 「〜つもりで」

Học viên thường bối rối về cách dùng các đuôi đi kèm của ngữ pháp này. Dưới đây là cách xác định chức năng dựa vào hậu tố:

V-ta / V-teiru + つもりだ / です (Đứng cuối câu): Dùng để diễn tả ý nghĩ đinh ninh, chủ quan của bản thân nhưng thực tế bị sai lệch (như đã giải thích ở lượt trước).

Ví dụ: 鍵をかけた思いだ(つもりだ)。 (Tôi đinh ninh là mình đã khóa cửa rồi).

V-ta / V-teiru + つもりで + [Động từ vế sau]: Đóng vai trò làm trạng từ chỉ cách thức, tâm thế để thực hiện hành động ở vế sau (Chính là cấu trúc bài này).

Ví dụ: だまされたつもりで、彼の話を聞いてみた。 (Tôi thử nghe câu chuyện của anh ta với tâm thế coi như là mình bị lừa một lần xem sao).

V-ta / V-teiru + つもりの + [Danh từ vế sau]: Đóng vai trò làm tính từ bổ nghĩa cho danh từ đứng sau.

Ví dụ: 冗談のつもりの発言が、彼を怒らせてしまった。 (Phát ngôn với ý định ban đầu coi như là đùa thôi, không ngờ lại làm anh ấy giận).

Phương pháp xác định khi làm bài tập

Khi làm bài tập trắc nghiệm ngữ pháp, dấu hiệu nhận biết rõ ràng nhất của cấu trúc 〜つもりで là:

Phía sau khoảng trống cần điền luôn luôn là một Động từ chỉ hành động có ý chí (貯金する - tiết kiệm, 練習する - luyện tập, 頑張る - cố gắng, 話す - nói chuyện).

Ý nghĩa của câu mang tính chất thúc đẩy, giả định một hoàn cảnh không có thật để tạo ra thái độ hoặc hành động nghiêm túc ở vế sau.

 

Con trai tôi cứ ngỡ mình đã biến thành anh hùng, nó đeo áo choàng rồi chạy nhảy khắp nhà.

Cô ấy cứ như thể mình đã thành ca sĩ, vừa tắm vừa hát vang hết mình.

Con gái tôi cứ tưởng mình là công chúa, nó cầm tà váy rồi cúi chào một cách duyên dáng.

Anh ta cứ xem mình như là vua, lúc nào cũng tỏ thái độ hống hách với cấp dưới.

Em gái tôi cứ ngỡ mình đã thành người mẫu, nó đang tạo đủ kiểu dáng trước gương.

Lũ trẻ cứ tưởng mình là thám tử, một tay cầm kính lúp bắt đầu cuộc tìm kiếm trong vườn.

Cậu bé cứ ngỡ mình là bác sĩ, đặt ống nghe lên gấu bông rồi dỗ dành: "Sẽ không sao đâu nhé".

Cô ta cứ làm như mình là nữ chính trong một vở bi kịch, chuyện cỏn con cũng than vãn quá lời.

Cháu gái tôi cứ tưởng mình là cô giáo, nó coi đám búp bê là học sinh rồi bắt đầu giảng bài.

Cậu bé cứ ngỡ mình là hải tặc, đeo băng che mắt phải rồi hét lên: "Kho báu ở đâu!".

Cô bé cứ tưởng mình là vũ công ba lê, nó cứ xoay vòng vòng giữa phòng khách.

Anh ta cứ ngỡ mình là đầu bếp chuyên nghiệp, ngồi thuyết minh về nguyên liệu như trên chương trình nấu ăn.

Em trai tôi cứ tưởng mình là ninja, nó rón rén bước đi thật khẽ ngoài hành lang.

Cô bé cứ xem mình là một chú mèo, cuộn tròn trong bàn sưởi kotatsu rồi kêu gừ gừ.

Cậu nhóc cứ ngỡ mình là tay đua, nó đạp xe với tốc độ bàn thờ.

Con gái tôi cứ tưởng mình là thợ làm tóc, nó cứ chải tóc cho tôi và chồng suốt.

Anh ta cứ xem mình là trọng tài, gào lên với cái tivi: "Pha đó là phạm lỗi rồi!".

Cô ấy cứ tưởng mình là nghệ sĩ piano, lướt các ngón tay gõ nhịp nhàng lên mặt bàn.

Cậu bé cứ ngỡ mình là phi công, nó dang rộng hai tay bắt chước điệu bộ máy bay bay.

Cô ta cứ làm như mình là diễn viên nổi tiếng, đeo kính râm dạo bước trên phố.

Con trai tôi cứ ngỡ mình là cảnh sát, nó đuổi theo chiếc xe ba bánh và hét: "Cái xe kia, đứng lại!".

Anh ta cứ xem mình là trung tâm của vũ trụ, lúc nào cũng chỉ toàn nói chuyện về bản thân.

Con gái tôi cứ tưởng mình là phù thủy, nó vung cành cây như đũa phép rồi lẩm bẩm đọc thần chú.

Anh ấy cứ ngỡ mình là nhạc trưởng, đang vung que chỉ huy theo nhịp nhạc cổ điển.

Cô ấy cứ tưởng mình là phát thanh viên, đang đọc bản tin một cách rành mạch rõ ràng.

Anh ta cứ như thể mình là đạo diễn điện ảnh, đang chỉ dẫn diễn xuất chi tiết cho đám bạn.

Con trai tôi cứ ngỡ mình là phi hành gia, nó bước đi chậm chạp khắp phòng (như trong môi trường không trọng lực).

Cô bé cứ xem mình là chủ tiệm hoa, đang trang trí những bông hoa vừa hái ngoài vườn thật đẹp.

Cậu bé cứ ngỡ mình là võ sĩ samurai, dắt một thanh kiếm làm bằng giấy báo cuộn tròn bên hông.

Con gái tôi cứ tưởng mình đã làm mẹ, nó đang nựng nịu em bé búp bê.

Anh ta cứ xem mình là một học giả vĩ đại, lúc nào cũng thích dùng những từ ngữ cao siêu để nói chuyện.

Cô bé cứ ngỡ mình là thần tượng, cầm chai nhựa thay micrô rồi vừa hát vừa nhảy.

Cậu bé cứ ngỡ mình là chim, từ trên đỉnh đồi nó dang tay bắt chước điệu bộ vỗ cánh bay vào bầu trời bao la.

Con gái tôi cứ tưởng mình là nàng tiên cá, nó chụm hai chân lại rồi bơi trong bồn tắm.

Anh ta cứ nghĩ mình là người thẳng thắn, hễ nghĩ gì là nói nấy làm tổn thương người khác.

Cô ấy cứ làm như mình là tiểu thuyết gia, đang ngồi trầm tư bên chiếc laptop ở quán cà phê.

Cậu nhóc cứ ngỡ mình là thợ mộc, lấy cái búa đồ chơi gõ chan chát vào bàn.

Con gái tôi cứ tưởng mình là nhân viên bán hàng, nó chào đón rất hăng hái: "Xin chào quý khách!".

Anh ta cứ xem mình là trọng tài, hễ đám bạn cãi nhau là lại thích nhảy vào phân xử.

Cô ấy cứ làm như thể một lữ khách đi tìm bản ngã, đang thơ thẩn dạo bộ quanh xóm chẳng vì mục đích gì.

Cậu bé cứ ngỡ mình là hiệp sĩ, gọi em gái là "công chúa" rồi vờ như đang bảo vệ cô bé.

Cô ta cứ đinh ninh mình là người biết lắng nghe, nhưng khi nghe người khác nói thì chỉ biết gật gù phụ họa suông.

Cậu bé cứ tưởng mình là con khỉ đột, vừa vỗ ngực vừa đi lạch bạch khắp nhà.

Con gái tôi cứ xem mình là chủ tiệm bánh, nó nặn đủ thứ loại bánh bằng đất sét.

Anh ta cứ nghĩ mình là người được yêu mến, gặp ai cũng sán lại bắt chuyện một cách suồng sã.

Cô bé cứ ngỡ mình là nhà thiết kế thời trang, đang tự tay vẽ mẫu quần áo cho búp bê.

Anh ta cứ tưởng mình là võ sĩ quyền Anh, vừa tập đấm vào không trung vừa chạy hùng hục lên cầu thang.

Con gái tôi cứ tưởng mình là y tá, nó bảo với đứa em vừa ngã: "Cái đau bay đi, cái đau bay đi nhé".

Anh ta cứ đinh ninh mình là nhân vật chính của một bi kịch, cứ kể đi kể lại mãi câu chuyện bất hạnh của mình.

Cô ấy cứ ngỡ mình là nhiếp ảnh gia, cứ dùng điện thoại chụp ảnh đồ ăn liên tục.