Hán Việt Hán tự Ý nghĩa
 

アプローチ

Tiếp cận
 

アマチュア

Nghiệp dư
 

アレンジ

Sắp đặt
 

アンケート

Khảo sát
 

イラスト

Minh họa
 

インフラ

Hạ tầng
 

インフレ

Lạm phát
 

エコノミー

Phổ thông
 

キャリア

Sự nghiệp
 

ギャップ

Khoảng cách
 

クレーム

Khiếu nại
 

ゲスト

Khách mời
 

コスト

Chi phí
 

コネ

Quan hệ
 

コントラスト

Tương phản
 

コンパクト

Tinh gọn
 

コンプレックス

Mặc cảm
 

シビア

Khắt khe
 

ジャーナリスト

Nhà báo
 

ジャンル

Thể loại
 

スムーズ

Trơn tru
 

スランプ

Sa sút
 

タイムリー

Kịp thời
 

ダメージ

Thiệt hại
 

チームワーク

Làm việc nhóm
 

ツール

Công cụ
 

デメリット

Nhược điểm
 

ドキュメント

Tài liệu
 

ドライ

Lạnh lùng
 

トラブル

Sự cố
 

ニュアンス

Sắc thái
 

ネットワーク

Mạng lưới
 

ノウハウ

Bí quyết
 

ハイライト

Điểm nhấn
 

パニック

Hoảng loạn
 

パフォーマンス

Hiệu suất
 

バリア

Rào cản
 

パートナー

Đối tác
 

バージョン

Phiên bản
 

ヒント

Gợi ý
 

プライバシー

Riêng tư
 

プラス

Điểm cộng
 

ブランド

Thương hiệu
 

プロ

Chuyên nghiệp
 

プロフィール

Hồ sơ
 

ベース

Nền tảng
 

ベテラン

Lão luyện
 

ポジション

Vị trí
 

ポリシー

Chính sách
 

メリット

Ưu điểm

GIẢI THÍCH NGỮ PHÁP: それまでだ (Trình độ N2 / N1)

Cấu trúc 「それまでだ」 được cấu thành từ đại từ chỉ định それ (cái đó/điều đó), trợ từ giới hạn まで (đến mức/đến thế là cùng) và trợ động từ khẳng định だ.

Về mặt bản chất logic, cấu trúc này vạch ra một ranh giới sụp đổ tuyệt đối: "Dù ở vế trước bạn có nỗ lực, tích lũy, sở hữu tài sản hay chuẩn bị kỹ lưỡng đến đâu đi chăng nữa, nhưng một khi biến cố hoặc điều kiện ở vế sau xuất hiện, tất cả mọi giá trị sẽ ngay lập tức quay về con số 0. Mọi thứ coi như chấm hết, vô nghĩa và không thể cứu vãn được nữa."

Ý nghĩa

Coi như xong / Đến đó là chấm hết.

Là vô nghĩa / Sẽ chẳng còn tác dụng gì nữa (Nếu xảy ra biến cố ở vế sau).

Bản chất và Ngữ cảnh sử dụng

Điểm nút sụp đổ giá trị (Mấu chốt logic): Đây là điểm cốt lõi để nhận diện cấu trúc. Câu văn sử dụng それまでだ luôn đi theo mô-típ: Dù vế A có tốt đẹp/cố gắng $\rightarrow$ Nhưng nếu bị dính vế B $\rightarrow$ Thì vế A lập tức biến thành vô nghĩa (それまでだ).

Cặp bài trùng với cấu trúc giả định (Mẹo làm bài): Để thiết lập điều kiện ranh giới này, vế trước của それまでだ rất thường xuyên kết hợp với các cấu trúc giả định mang tính tiêu cực hoặc bước ngoặt như:

~たらそれまでだ (Một khi đã... thì coi như xong).

~ばそれまでだ (Nếu mà... thì coi như chấm hết).

Sắc thái thực tế, cảnh tỉnh: Cấu trúc này mang tính chất phê phán, thực dụng hoặc đưa ra một lời cảnh báo tỉnh táo về quy luật cuộc sống: Đừng quá tự phụ vào những gì đang có, vì mọi thứ đều có thể tan biến trong phút chốc nếu phạm sai lầm.

Văn phong: Sử dụng linh hoạt trong cả hội thoại hằng ngày (khẩu ngữ) khi than vãn, cảnh báo lẫn văn nghị luận khi phân tích các rủi ro, triết lý nhân sinh.

Cấu trúc ngữ pháp

$$\mathbf{\text{Động từ thể } V\text{-たら} / V\text{-ば} + それまでだ}$$

$$\mathbf{\text{Danh từ } + になったらそれまでだ}$$

Ví dụ minh họa

どれほど高いパソコンを買っても、水をこぼして壊してしまったらそれまでだ。

(Dẫu bạn có mua chiếc máy tính đắt tiền đến nhường nào đi chăng nữa, nhưng một khi lỡ làm đổ nước vào gây hỏng hóc thì coi như xong (chẳng còn giá trị gì nữa).)

いくら素晴らしい計画を立てても、実行に移さなければそれまでだ。

(Dẫu có lập ra một kế hoạch tuyệt vời đến mấy, nhưng nếu không chịu bắt tay vào thực hiện thì mọi thứ cũng chỉ là vô nghĩa mà thôi.)

どんなに大金を稼いで資産を築いても、健康を害して命を落としたらそれまでだ。

(Dẫu có kiếm được nhiều tiền và xây dựng tài sản kếch xù đến thế nào, nhưng nếu tàn phá sức khỏe rồi mất mạng thì tất cả coi như chấm hết.)

長年築き上げてきた会社の信用も、たった一度の不正行為で失ってしまったらそれまでだ。

(Sự uy tín của công ty đã được gầy dựng suốt nhiều năm ròng rã, nhưng một khi bị đánh mất chỉ vì một hành vi gian lận duy nhất thì mọi nỗ lực trước đó đều thành đổ sông đổ bể.)

Dù có tài năng đến đâu mà không nỗ lực thì cũng bằng thừa.

Dù học bao nhiêu đi nữa mà không thể thể hiện thực lực trong kỳ thi thật thì cũng coi như xong.

Dù có dày công luyện tập bền bỉ mà không thắng được trong trận đấu thì cũng chẳng còn ý nghĩa gì.

Dù ý tưởng có tuyệt vời đến đâu mà không đưa vào thực hiện thì cũng chỉ đến thế mà thôi.

Dù có nhồi nhét bao nhiêu kiến thức mà không thể ứng dụng được thì cũng bằng không.

Dù có cố gắng thế nào mà sai phương hướng thì cũng coi như xong đời.

Dù luyện tập bao nhiêu mà căn bản không vững thì cũng chẳng đi đến đâu.

Dù lập kế hoạch tốt đến mấy mà hành động không đi đôi thì cũng bằng thừa.

Dù có hối lỗi bao nhiêu mà vẫn lặp lại sai lầm tương tự thì cũng chẳng còn gì để nói.

Dù có năng lực giỏi giang đến đâu mà làm hại đến sức khỏe thì cũng coi như xong hết.

Dù có mài giũa kỹ năng đến mấy mà thiếu khả năng giao tiếp thì cũng bằng không.

Dù viết luận văn tốt đến đâu mà không truyền đạt được hiệu quả khi thuyết trình thì cũng coi như bỏ.

Dù lúc luyện tập có hoàn hảo bao nhiêu mà chịu áp lực kém thì cũng bằng thừa.

Dù là người lãnh đạo ưu tú đến mấy mà cấp dưới không đi theo thì cũng chẳng làm được gì.

Dù có phân tích bao nhiêu mà sai lầm ở quyết định cuối cùng thì coi như xong hết.

Dù kinh nghiệm có phong phú đến đâu mà không chịu học hỏi cái mới thì cũng chỉ đến thế thôi.

Anh ấy than thở rằng dù có cố gắng bao nhiêu mà vốn dĩ không có tài năng thì cũng bằng thừa.

Dù có nói về tầm nhìn tuyệt vời thế nào mà không hiện thực hóa được thì cũng vô nghĩa.

Dù nỗ lực bao nhiêu mà bị vận may quay lưng thì cũng coi như xong.

Dù có nhận được sự giáo dục tốt đến đâu mà bản thân không có chí tiến thủ thì cũng bằng thừa.

Dù chuẩn bị bao nhiêu đi nữa mà để lỡ mất cơ hội thì coi như xong.

Dù có nói lý lẽ đúng đắn thế nào mà không lay động được đối phương thì cũng vô nghĩa.

Dù mạng lưới quan hệ có rộng đến đâu mà không có uy tín thì cũng bằng thừa.

Dù chiến lược có tốt đến mấy mà thiếu dũng khí thực hiện thì cũng coi như bỏ.

Dù trí nhớ có tốt bao nhiêu mà thiếu khả năng tư duy thì cũng chẳng để làm gì.

Dù quần áo có đắt tiền đến đâu mà không hợp thì cũng bằng thừa.

Dù món ăn trông có sang trọng đến mấy mà vị dở thì cũng vứt.

Dù là máy tính đời mới nhất đi nữa mà không biết sử dụng thành thạo thì cũng coi như xong.

Dù két sắt có kiên cố đến mấy mà bị lộ mật mã thì cũng bằng thừa.

Dù ngôi nhà có thiết kế tuyệt vời thế nào mà ở không thoải mái thì cũng chẳng có ý nghĩa gì.

Dù xe có tiết kiệm nhiên liệu bao nhiêu mà ngồi không êm thì cũng vứt.

Dù máy ảnh có tính năng cao cấp thế nào mà không có khoảnh khắc muốn chụp thì cũng bằng thừa.

Dù nhạc cụ có cao cấp bao nhiêu mà không có kỹ thuật chơi thì cũng chỉ đến thế thôi.

Dù dao có sắc đến đâu mà lơ là bảo quản thì cũng coi như xong.

Dù xe có an toàn bao nhiêu mà tài xế lái ẩu thì cũng chẳng có ý nghĩa gì.

Dù bảo ngọc có đẹp đến đâu mà mất đi độ sáng bóng thì cũng bằng thừa.

Dù bình nước có giữ nhiệt tốt bao nhiêu mà bị rò rỉ nước thì cũng vứt.

Dù ứng dụng có tiện lợi thế nào mà đầy lỗi thì cũng chẳng dùng được.

Dù máy tính xách tay có nhẹ bao nhiêu mà pin không bền thì cũng bằng không.

Dù cuốn sách có hay đến mấy mà không được đọc thì cũng vô nghĩa.

Dù giá trị dinh dưỡng có cao bao nhiêu mà trẻ không chịu ăn thì cũng bằng thừa.

Dù keo dán có mạnh đến đâu mà bề mặt dán bị bẩn thì cũng chẳng có tác dụng gì.

Dù trò chơi có hay mấy mà không có bạn chơi cùng thì cũng chẳng còn vui nữa.

Dù chức danh có hoành tráng thế nào mà năng lực thực tế không tương xứng thì cũng chỉ là hư danh.

Dù hàng có rẻ bao nhiêu mà vừa dùng đã hỏng thì cũng bằng thừa.

Dù thuốc có tốt đến đâu mà không uống thì cũng chẳng ích gì.

Dù kịch bản có hay mấy mà diễn viên diễn dở thì cũng hỏng bét.

Dù vũ khí có mạnh đến mấy mà người sử dụng còn non nớt thì cũng bằng không.

Dù nhà có rộng lớn nguy nga đến mấy mà thiếu vắng nụ cười gia đình thì cũng chẳng còn ý nghĩa.

Dù luật pháp có tốt đến đâu mà không được tuân thủ thì cũng bằng thừa.

 

 

 

 

 

 

 

GIẢI THÍCH NGỮ PHÁP: ~には当たらない (Trình độ N1)

Cấu trúc 「~には当たらない」 (thường viết bằng chữ Hán là 「~には当たらない」, bắt nguồn từ động từ 「当たる」 - tương xứng, phù hợp, đúng với).

Về mặt bản chất logic, cấu trúc này diễn tả một sự hạ thấp mức độ phản ứng một cách tỉnh táo: "Sự việc xảy ra là hoàn toàn bình thường, hiển nhiên, nằm trong tầm dự tính hoặc có nguyên do chính đáng từ trước. Vì vậy, việc người quan sát tỏ ra ngạc nhiên, trầm trồ hay phản ứng thái quá ở vế trước là điều không tương xứng, không cần thiết và không đáng để làm."

Ý nghĩa

Không có gì phải... / Không đáng để...

Chẳng cần thiết phải... (Thường đi với các động từ chỉ cảm xúc như ngạc nhiên, khen ngợi, chỉ trích).

Bản chất và Ngữ cảnh sử dụng

Phép thử tính tương xứng (Mấu chốt logic): Đây là điểm cốt lõi để nhận diện cấu trúc. Người nói sử dụng ~には当たらない khi muốn kéo tâm lý của người nghe về trạng thái cân bằng. Nó khẳng định hành vi ở vế trước là "làm quá" so với bản chất thực sự của sự việc.

Các động từ đi kèm cố định (Mẹo ăn trọn điểm N1): Để ăn điểm tuyệt đối cấu trúc này trong bài thi JLPT, học viên chỉ cần thuộc lòng nhóm động từ phản ứng nội tâm thường xuyên kết hợp với nó:

驚くには当たらない (Không có gì phải kinh ngạc cả).

称賛するには当たらない (Chẳng đáng để ngợi ca / bình thường thôi).

非難するには当たらない (Không có gì đáng để trách móc / phê phán).

悲しむには当たらない (Chẳng có gì phải đau buồn cả).

Văn phong: Đậm chất nghị luận, chính luận báo chí, đánh giá chuyên môn hoặc văn viết trang trọng. Nó thể hiện một cái nhìn khách quan, điềm tĩnh và có phần sắc sảo của người nói trước một hiện tượng dư luận đang xôn xao.

Cấu trúc ngữ pháp

$$\mathbf{\text{Động từ thể } V\text{-る} + には当たらない}}$$

$$\mathbf{\text{Danh từ (Danh động từ dạng } N\text{する}) + には当たらない}}$$

Ví dụ minh họa

科学技術がこれだけ進歩した現代において、彼らの新発明も驚くには当たらない。

(Trong một thời đại mà khoa học kỹ thuật đã tiến bộ đến mức này, phát minh mới của họ cũng chẳng có gì phải kinh ngạc cả.)

彼は過去に何度も同様の不正を行っており、今回の処分は非難するには当たらない 当然の結果だ。

(Anh ta trong quá khứ đã từng nhiều lần thực hiện hành vi gian lận tương tự, hình phạt lần này là kết quả hiển nhiên chứ chẳng có gì đáng để kêu ca hay trách móc.)

業界大手の企業が十分な予算を投じてこの程度の製品を作ったのは、称賛するには当たらない。

(Một doanh nghiệp lớn hàng đầu trong ngành đầu tư một nguồn ngân sách dồi dào mà làm ra được loại sản phẩm ở tầm mức này thì cũng thường thôi, chẳng có gì đáng để ca ngợi.)

事前の準備を全くせずに試験に臨んだのだから、不合格になったとしても嘆くには当たらない。

(Vì bản thân hoàn toàn không chuẩn bị bất cứ thứ gì trước khi bước vào kỳ thi, nên dẫu có bị trượt thì cũng chẳng có gì đáng để than vãn, khóc lóc cả.)

 

 

Tôi chỉ làm công việc của mình thôi nên tôi nghĩ không đáng để được khen ngợi đâu ạ.

Tôi chỉ làm điều đương nhiên của một con người thôi, không đáng để được cảm ơn.

Bác sĩ cứu người là chức trách, không tới mức phải nhận lời tán dương đặc biệt.

Tôi chỉ mang đồ nhặt được đến đồn cảnh sát thôi, không đáng để được nói lời cảm ơn.

Cha mẹ chăm sóc con cái là chuyện đương nhiên, không tới mức phải được khen ngợi.

Chỉ vì đến đúng giờ hẹn thì cũng không đáng để khen ngợi.

Cống hiến với tư cách là một thành viên của đội là điều đương nhiên, không đáng để tán dương.

Lính cứu hỏa dập lửa là nhiệm vụ, không tới mức phải được coi trọng như anh hùng đặc biệt.

Tự mang rác của mình về là phép lịch sự, không đáng để được khen ngợi.

Việc gắn kết đội ngũ là vai trò của tôi với tư cách là trưởng nhóm, nên không đáng để được cảm ơn.

Giúp đỡ đồng nghiệp đang gặp khó khăn là điều đương nhiên, không tới mức phải bắt người ta mang ơn.

Tuân thủ pháp luật là nghĩa vụ của quốc dân, không đáng để được tán dương.

Chỉ với việc hoàn thành mục tiêu của bộ phận mình thì chắc chưa tới mức nhận được giải thưởng của Giám đốc.

Tôi cũng chỉ giúp được một chút xíu thôi nên không đáng để được cảm ơn đâu ạ.

Khắc phục thất bại là trách nhiệm đương nhiên, không đáng để được khen ngợi.

Chỉ với việc dọn dẹp phòng của chính mình thì không đáng để phải khâm phục.

Anh ta chẳng qua chỉ hoàn thành nghĩa vụ của mình thôi, không tới mức phải được biểu dương.

Giáo viên trao đổi tư vấn cho học sinh là một phần của công việc, không đáng để được cảm ơn.

Tôi chỉ nhường đường thôi nên không đáng để phải cảm kích đến mức đó.

Tuân thủ quy định của công ty là điều đương nhiên, không đáng để được đánh giá cao.

Chỉ với việc đi làm mỗi ngày thì không đáng để được khen ngợi.

Hành vi của anh ta có thể là từ thiện chí, nhưng không đáng để được tán dương.

Chỉ quyên góp một chút xíu thôi thì chưa tới mức được gọi là nhà từ thiện.

Tôi chỉ hoàn thành vai trò của mình thôi, không tới mức nhận được sự đánh giá đặc biệt.

Dù không đi muộn thì cũng không đáng để được khen ngợi.

Làm bài tập về nhà là điều đương nhiên của học sinh, không đáng để được tán dương.

Yêu thương con cái mình là chuyện đương nhiên, không tới mức phải được khen ngợi.

Dốc toàn lực để thắng trận đấu là điều đương nhiên, không đáng để được tán dương.

Đính chính lỗi sai là điều đương nhiên, không đáng để được cảm ơn.

Với mức độ cống hiến cỡ đó thì chưa tới mức được chọn làm MVP.

Lòng tốt của anh ta là có ý đồ cả đấy. Không đáng để được tán dương đâu.

Anh ta chỉ hành động vì lợi ích của chính mình thôi, không đáng để khen ngợi.

Anh ta chỉ làm những gì được bảo thôi, không đáng để được tán dương.

Thành công lần này chỉ là do may mắn thôi, không tới mức được đánh giá là công lao của anh ta.

Chào hỏi là điều cơ bản của một người trưởng thành, không đáng để được khen ngợi.

Hành vi của anh ta chẳng qua chỉ là để thỏa mãn bản thân thôi, không đáng để được tán dương.

Chỉ làm việc theo đúng sách hướng dẫn thôi thì chưa tới mức nhận được sự đánh giá đặc biệt.

Chỉ mới đạt được mục tiêu tối thiểu thôi thì chưa đáng để vui mừng đâu.

Phát ngôn của anh ta tuy đúng nhưng vì đã muộn rồi nên không đáng để được đánh giá cao.

Yêu chiều cháu mình thì cũng không tới mức phải được khen ngợi.

Người mới bắt đầu có lỡ thất bại một hai lần thì cũng không đáng để bị chỉ trích.

Đây là một tai nạn, không tới mức phải truy cứu trách nhiệm của anh ấy.

Một trò nghịch ngợm nhỏ của trẻ con thì không đáng để bị mắng đến mức đó.

Anh ta làm vậy vì ý tốt, không đáng để bị chỉ trích.

Vì anh ấy không biết nên không đáng để bị khiển trách.

Đây là lỗi mà ai cũng có thể mắc phải, không tới mức một mình anh ấy phải chịu chỉ trích.

Ý kiến của anh ta tuy thuộc về số ít nhưng không đáng để bị coi thường.

Thất bại này là do thiếu kinh nghiệm, không tới mức bị kết luận là thiếu năng lực.

Trang phục của anh ta tuy có cá tính nhưng không đáng để bị chỉ trích.

Dù thua trận thì cũng không tới mức coi một cầu thủ duy nhất là tội đồ.