Hán Việt Hán tự Ý nghĩa
 

マスコミ

Truyền thông
 

モチベーション

Động lực
 

モノトーン

Đơn sắc
 

モデル

Kiểu mẫu
 

モード

Chế độ
 

モラル

Đạo đức
 

ユーザー

Người dùng
 

ユニーク

Độc đáo
 

ライフ

Cuộc sống
 

ライフサイクル

Chu kỳ
 

ライフワーク

Sự nghiệp
 

ライバル

Đối thủ
 

ラグジュアリー

Xa xỉ
 

ラスト

Cuối cùng
 

リアクション

Phản ứng
 

リアル

Thực tế
 

リアリティ

Chân thực
 

リーダーシップ

Lãnh đạo
 

リクエスト

Yêu cầu
 

リサイクル

Tái chế
 

リスク

Rủi ro
 

リスト

Danh sách
 

リザーブ

Dự trữ
 

リニューアル

Đổi mới
 

リハビリ

Phục hồi
 

リフレッシュ

Làm mới
 

リミット

Hạn mức
 

リラックス

Thư giãn
 

リリック

Ca từ
 

リモート

Từ xa
 

ルーズ

Cẩu thả
 

ルート

Lộ trình
 

ルックス

Diện mạo
 

ルール

Quy tắc
 

レア

Hiếm có
 

レギュラー

Chính thức
 

レジ

Quầy thu ngân
 

レッスン

Bài học
 

レトルト

Đóng gói
 

レビュー

Đánh giá
 

レファレンス

Tham khảo
 

レベル

Trình độ
 

レポート

Báo cáo
 

レンタル

Cho thuê
 

ローカル

Địa phương
 

ロジック

Logic
 

ロマン

Hoài bão
 

ロング

Khổ dài
 

ワークショップ

Hội thảo
 

ワンパターン

Rập khuôn

GIẢI THÍCH NGỮ PHÁP: ~といったところだ (Trình độ N2 / N1)

Cấu trúc 「~といったところだ」 (hoặc dạng rút gọn là 「というところだ」) được thành lập từ cụm liên kết といった (gọi là/đại loại như) kết hợp với danh từ chỉ không gian, thời điểm hoặc mức độ ところ (tầm mức, vị trí) và đuôi khẳng định だ.

Về mặt bản chất logic, cấu trúc này đưa ra một lời ước lượng, đánh giá mức độ ở giới hạn tối đa: "Dù có cố gắng phóng đại, tính toán hào phóng hay đưa ra con số cao nhất có thể trong bối cảnh này, thì mức độ thực tế của sự việc cũng chỉ chạm tới cái ngưỡng khiêm tốn ở vế trước mà thôi, không thể nào cao hơn được nữa."

Ý nghĩa

Cũng chỉ tầm... mà thôi / Cùng lắm cũng chỉ cỡ...

Đại loại ở mức... (Đưa ra con số ước lượng tối đa nhưng thực tế lại khá thấp).

Bản chất và Ngữ cảnh sử dụng

Giới hạn trần thấp của mức độ (Mấu chốt logic): Người nói sử dụng cấu trúc này khi muốn nhấn mạnh rằng con số hoặc trạng thái được đưa ra ở vế trước chính là "cột mốc kịch trần". Bản chất của sự việc không hề hoành tráng như người khác tưởng tượng, mà nó dừng lại ở một con số khá khiêm tốn hoặc vừa vặn.

Thường đi kèm với các từ chỉ số lượng hoặc trạng thái tối thiểu (Mẹo làm bài): Để làm nổi bật cái ngưỡng giới hạn này, cấu trúc ~といったところだ rất hay đi liền với các phó từ giới hạn hoặc số từ nhỏ như:

せいぜい (Cùng lắm cũng chỉ, tối đa là).

最高でも (Cao nhất cũng chỉ).

1年に数回 (Một năm vài lần).

Văn phong: Sử dụng cực kỳ phổ biến trong cả hội thoại hằng ngày lẫn văn viết khi người nói muốn trả lời một câu hỏi ước lượng về tần suất, số lượng, thời gian hoặc năng lực thực tế một cách khiêm tốn, khách quan.

Cấu trúc ngữ pháp

$$\mathbf{\text{Danh từ } / \text{Số từ } / \text{Động từ thể } V\text{-る} + といったところだ}$$

$$\mathbf{\text{Danh từ } / \text{Số từ } / \text{Động từ thể } V\text{-る} + というところだ}$$

Ví dụ minh họa

「最近, bạn có thường xuyên đi du lịch nước ngoài không?」「いえ、せいぜい3年に1回 といったところだ。」

(“Dạo gần đây bạn có thường xuyên đi du lịch nước ngoài không?” – “Không, cùng lắm cũng chỉ tầm 3 năm 1 lần mà thôi.”)

私のフランス語の能力は、挨拶と簡単な自己紹介ができる というところだ。

(Năng lực tiếng Pháp của tôi thì cũng chỉ ở tầm mức có thể chào hỏi và tự giới thiệu bản thân đơn giản mà thôi.)

この地域の夏の最高気温は、暑い日でも32度 といったところなので、比較的過ごしやすい。

(Nhiệt độ cao nhất vào mùa hè của vùng này dẫu vào ngày nóng thì cũng chỉ tầm cỡ 32 độ mà thôi, nên tương đối dễ sống.)

毎月の小遣いは、サラリーマンの平均よりも低く、せいぜい2万円 といったところだ。

(Tiền tiêu vặt hằng tháng của tôi còn thấp hơn mức trung bình của dân văn phòng, cùng lắm cũng chỉ cỡ 2 vạn yên là cùng.)

 

 

Tiến độ của bài báo cáo thì, có thể nói là đã viết xong được một nửa.

Mức độ tiến triển của dự án vào khoảng 30% tổng thể.

Ở nơi làm việc mới thì có thể nói là cuối cùng tôi cũng đã bắt đầu quen dần.

Tình trạng bệnh của anh ấy có thể nói là đã đến mức ăn được cháo rồi.

Bài tập hè thì chỉ còn lại tầm những phần rắc rối thôi.

Việc dọn dẹp nhà cửa có thể nói là mới chỉ xong phòng khách thôi.

Tiến triển của cuộc đàm phán có thể nói là con số không tròn trĩnh.

Kế hoạch xây dựng có thể nói là vẫn đang ở giai đoạn làm móng.

Mức độ hối lỗi của anh ta chỉ là chót lưỡi đầu môi, có lẽ cao nhất cũng chỉ tầm 10%.

Kết quả giảm cân thì chắc là khoảng giảm được 1kg trong một tháng nhỉ.

Tình hình huy động vốn có thể nói là đạt khoảng 20% số tiền mục tiêu.

Cuộc điều tra có thể nói là vẫn đang ở giai đoạn khảo sát sơ bộ.

Việc luyện tập marathon có thể nói là cuối cùng cũng đã chạy được 5km.

Công việc hôm nay có thể nói là đã tiến triển được đến một đoạn tạm ổn.

Mức độ hiểu của anh ấy nghe nói là chỉ tầm "hiểu sương sương" thôi.

Tỷ lệ hoàn thành mục tiêu năm nay có thể nói là cũng đã vượt qua được mức 50%.

Độ hoàn thiện của đội có lẽ cũng chỉ tầm 60 điểm thôi.

Việc đóng gói đồ chuyển nhà có thể nói là mới chỉ xong một cái giá sách.

Sự nhiệt huyết của anh ta có thể nói là chỉ ở cái miệng, còn hành động là con số không.

Công tác phục hồi có thể nói là đã hoàn thành được một phần tư tổng thể.

Hoa anh đào ở vùng này có thể nói là đã bắt đầu nở lác đác vài chỗ.

Sự trưởng thành của anh ấy có lẽ mới chỉ ở tầm vừa đứng vào vạch xuất phát.

Doanh thu tháng này có thể nói là vừa vặn ở mức có lãi.

Tiến triển của cuộc thảo luận có thể nói là đang ở giai đoạn liệt kê các vấn đề tồn đọng.

Vết thương lòng của anh ấy chắc là cũng mới chỉ dịu bớt đi một chút thôi.

Sự chuẩn bị của chúng tôi chưa thể nói là hoàn hảo, mới chỉ ở tầm 70%.

Sản lượng thu hoạch lúa năm nay có thể nói là ở mức tương đương mọi năm.

Tỷ lệ ủng hộ của anh ấy có thể nói là đã hồi phục lại đôi chút.

Số tiền lỗ có thể nói là cũng đã khống chế được trong khoảng dưới 100 triệu Yên.

Việc điều tra vụ án nghe nói là mới ở tầm đã khoanh vùng được các nghi phạm.

Tính khả thi của kế hoạch này, tại thời điểm hiện tại, có thể nói là khoảng 30%.

Việc hàn gắn mối quan hệ của chúng tôi có thể nói là mới chỉ bắt đầu mà thôi.

Sự nổi tiếng của anh ta có lẽ đã qua thời đỉnh cao và đang ở mức ổn định trở lại.

Phong độ của tôi lúc này có thể nói là đang ở ngay sát ngưỡng cực tốt.

Nói tóm lại thì kết quả lần này có thể coi là việc tạm hoãn (không thực hiện).

Cuộc đàm phán có thể nói là cuối cùng cũng đã bắt đầu vào giai đoạn ngồi lại thảo luận.

Mức độ hài lòng của tôi lúc này chắc tầm 6 trên thang điểm 10 nhỉ.

Sự hồi phục của giá cổ phiếu có lẽ cũng mới chỉ đang ở giai đoạn bắt đầu thôi.

Mức độ đóng góp của anh ta có thể nói là chưa đạt đến nổi 5% của cả đội.

Độ hoàn thiện của bài luận văn có thể nói là vẫn đang ở giai đoạn viết nháp.

Kết quả bài kiểm tra hôm nay chắc tầm khoảng 70 điểm nhỉ.

Số lượng người tham gia cuộc họp có lẽ tối đa cũng chỉ tầm 10 người.

Thu nhập hàng năm của tôi có thể nói là thấp hơn một chút so với mức trung bình của những người cùng lứa tuổi.

Ngân sách cho nhà hàng này vào khoảng 5000 Yên một người.

Số tiền tiết kiệm hiện tại của tôi có thể nói là cuối cùng cũng đã chạm mốc 1 triệu Yên.

Xác suất thắng trận đấu này có lẽ ở mức năm ăn năm thua.

Khả năng anh ta đến đúng giờ có lẽ cao nhất cũng chỉ tầm 30%.

Thù lao của công việc này nếu quy đổi ra lương giờ thì vào khoảng 1000 Yên.

Lượng khán giả hôm nay còn cách xa mức đầy chỗ, có thể nói là đạt khoảng 60%.

Pin điện thoại có thể nói là chỉ còn khoảng 10%.

 

 

 

 

GIẢI THÍCH NGỮ PHÁP: ~にもほどがある (Trình độ N2)

Cấu trúc 「~にもほどがある」 (thường viết bằng chữ Hán là 「~にも程がある」) được cấu thành từ trợ từ kết hợp にも (ngay cả đối với...) và cụm chủ vị ほどがある (có giới hạn, có mức độ; trong đó 程 / ほど nghĩa là chừng mực, hạn độ).

Về mặt bản chất logic, cấu trúc này thiết lập một giới hạn chịu đựng tối đa: "Bất kỳ sự việc, hành vi hay tính chất nào trên đời này dẫu có được phép tồn tại thì cũng phải giữ ở một chừng mực nhất định. Thế nhưng, trạng thái ở vế trước đã phá vỡ hoàn toàn cái đường biên giới vô hình đó, lao thẳng vào vùng quá quắt, điên rồ khiến người nói cực kỳ phẫn nộ, không thể dung thứ."

Ý nghĩa

Có làm gì thì cũng phải có mức độ thôi chứ! / ... cũng vừa phải thôi chứ!

Quá quắt hết chỗ nói / Quá mức chịu đựng (Dùng để chỉ trích gay gắt một hành vi vô lý).

Bản chất và Ngữ cảnh sử dụng

Vượt ngưỡng chừng mực xã hội (Mấu chốt logic): Đây là điểm cốt lõi để nhận diện cấu trúc. Người nói sử dụng ~にもほどがある không phải để miêu tả một cách khách quan, mà là một phản ứng cảm xúc bùng nổ (giận dữ, tức tối, ngao ngán) trước một sự việc vô lý đến mức nực cười.

Độc quyền đi với các từ vựng tiêu cực: Cấu trúc này không bao giờ kết hợp với các tính từ hay danh từ mang nghĩa tốt đẹp ("Cậu thông minh cũng phải có mức độ thôi chứ" $\rightarrow$ Không dùng theo nghĩa tiêu cực này). Nó chỉ đi với các từ biểu thị sự ngu ngốc, thô lỗ, quá đáng hoặc kỳ lạ:

冗談にもほどがある (Đùa cũng phải vừa phải thôi chứ! / Đùa vô duyên quá mức).

わがままにもほどがある (Ích kỷ cũng phải có mức độ thôi chứ!).

失礼にもほどがある (Thất lễ đến mức không thể chấp nhận được).

馬鹿にするにもほどがある (Khinh người cũng vừa vừa phai phải thôi chứ!).

Văn phong: Sử dụng với tần suất cực cao trong hội thoại hằng ngày (khẩu ngữ) khi tranh cãi, trách mắng trực diện đối phương. Ngoài ra, nó cũng xuất hiện trong văn phê bình, nghị luận xã hội khi tác giả muốn thể hiện thái độ đả kích mạnh mẽ trước một hiện tượng biến tướng, lệch chuẩn.

Cấu trúc ngữ pháp

$$\mathbf{\text{Tính từ đuôi } い / \text{Tính từ đuôi } な / \text{Danh từ } + にもほどがある}$$

$$\mathbf{\text{Động từ thể } V\text{-る} + にもほどがある}$$

Ví dụ minh họa

無断で人の日記を盗み見て、それをSNSに拡散するなんて、悪趣味にもほどがある。

(Cái trò tự ý xem trộm nhật ký của người khác rồi còn đem phát tán lên mạng xã hội thì đúng là ác ý, vô duyên quá mức chịu đựng!)

大切な約束の時間に連絡もせず3時間も遅れてくるなんて、失礼にもほどがある。

(Đến muộn tận 3 tiếng đồng hồ vào một buổi hẹn quan trọng mà không thèm liên lạc lấy một lời, thật là thất lễ cũng phải có mức độ thôi chứ!)

「今回は見逃してやるが、次は警察に通報する」「脅すにもほどがある。私は何も悪いことはしていない」

(“Lần này tôi bỏ qua cho anh đấy, chứ lần sau là tôi báo cảnh sát đấy.” – “Đe dọa người khác cũng vừa phải thôi chứ! Tôi có làm gì xấu đâu!”)

他人が必 chết で築き上げた成果を、何の苦労もせず丸ごと横取りしようとするなんて, tham lam にもほどがある。

(Cái việc định nẫng tay trên toàn bộ thành quả mà người khác đã đổ mồ hôi sôi nước mắt gầy dựng nên mà không muốn tốn chút công sức nào, đúng là tham lam hết chỗ nói.)

 

 

Tự tiện mở tủ lạnh nhà người khác như thế thì thật là mặt dày quá mức chịu đựng.

Cười nhạo trước mặt người đang khóc thì thật là vô tâm đến mức không thể chấp nhận được.

Mọi người đã chốt quy định rồi mà chỉ mình anh không tuân thủ thì thật là ích kỷ quá trớn.

Mới gặp lần đầu mà đã hỏi tuổi tuất ngay thì thật là vô lễ cũng phải có giới hạn thôi chứ.

Cái thái độ tuyệt đối không chịu nhận lỗi sai của mình thì đúng là ngạo mạn quá mức.

Được người ta giúp đỡ mà không thèm nói một lời cảm ơn thì thật là vô lễ hết sức.

Đến tiền mừng cưới của bạn thân mà cũng định mặc cả thì thật là keo kiệt đến mức cạn lời.

Cái thói ích kỷ của anh ta thì thật là trẻ con cũng phải có mức độ thôi chứ.

Không thể thành tâm vui mừng trước thành công của người khác thì thật là đố kỵ quá mức rồi.

Cứ khăng khăng tin rằng ý kiến của mình là tuyệt đối đúng thì thật là bảo thủ quá trớn.

Chỉ vì chuyện vặt vãnh mà khó chịu cả ngày trời thì thật là nóng nảy quá mức.

Cái thái độ của anh ta thì thật là kể công quá trớn.

Cái gì cũng đổ lỗi cho người khác thì thật là hèn hạ quá mức chịu đựng.

Là người dẫn dắt mà lúc nào cũng trốn tránh trách nhiệm thì thật là nhu nhược hết chỗ nói.

Mấy chuyện khoe khoang của anh ta đúng là tự mãn quá trớn.

Chuyện bé xé ra to như thế thì đúng là đa nghi lo hão quá mức rồi.

Thái độ của cô ta đúng là hống hách quá trớn.

Hành động của anh ta thật là tính toán quá mức rồi.

Cứ khen con mình suốt như thế thì đúng là cuồng con quá mức rồi.

Cách suy nghĩ bi quan của anh ta thật là tiêu cực quá trớn.

Cái thái độ muốn làm hài lòng tất cả mọi người của cô ta thật là khéo mồm quá trớn.

Thái độ của anh ta thật là kiêu ngạo quá trớn.

Cái tính hay dựa dẫm của cô ta thật là vòi vĩnh quá mức chịu đựng.

Cái thái độ lì lợm đeo bám của anh ta thật là dai như đỉa quá mức rồi.

Đem thất bại của mình ra làm trò cười thì thật là thiếu sự hối lỗi quá mức.

Hả hê trước nỗi bất hạnh của người khác thì đúng là nhân cách tồi tệ quá trớn.

Thái độ của anh ta thật là suồng sã quá trớn.

Hành động của cô ta đúng là khinh suất quá mức.

Phát ngôn của anh ta đúng là vô trách nhiệm quá trớn.

Thái độ của người đó thật là lạnh lùng tàn nhẫn quá mức.

Đem bí mật của người khác đi rêu rao thì thật là cái miệng quá bép xép rồi.

Hẹn hò mà muộn tận 3 tiếng đồng hồ thì đúng là cao su giờ giấc quá trớn.

Tiền vừa mới cho vay hôm qua mà đã bảo "không biết" thì thật là quên quá trớn rồi.

Mấy lời bào chữa của anh ta thì thật là lộ liễu quá mức.

Thản nhiên nói những lời làm tổn thương người khác như vậy thì đúng là đùa quá trớn rồi.

Lừa dối cả bạn thân 10 năm trời thì đúng là nói dối quá trớn rồi.

Trong lúc họp mà cứ nghịch điện thoại suốt thì thật là thiếu nghiêm túc quá trớn.

Chẳng thèm nghe người khác nói mà chỉ toàn nói chuyện của mình thì thật là coi thường người khác quá trớn.

Ngày nào cũng đòi mượn tiền thì đúng là ỷ lại quá mức chịu đựng rồi.

Hành động của anh ta đúng là bao đồng quá trớn.

Tích rác tận 1 tháng trời không đổ thì thật là luộm thuộm quá mức rồi.

Cậy là buffet ăn thoải mái mà gọi một lượng không thể ăn hết nổi thì thật là tham lam quá trớn.

Cách lái xe của anh ta thật là hung hãn quá mức.

Một mình ăn tận 3 cái pizza thì đúng là háu ăn quá trớn rồi.

Cách nhậu nhẹt của anh ta thật là quá bừa bãi lộn xộn rồi.

Nội dung câu hỏi thật là trật lất quá trớn.

Cái sự bừa bộn trong phòng anh ta thì đúng là lười dọn dẹp quá mức chịu đựng rồi.

Cái gì cũng lôi ra chụp ảnh thì thật là quá đà quá mức rồi.

Sự kiểm soát của anh ta thì không phải là yêu mà đúng hơn là bất thường quá trớn.

Tự tiện đụng vào đồ cá nhân của người khác thì thật là thiếu tế nhị quá trớn.